Người làm chứng theo luật công chứng năm 2014

Người làm chứng đã được xuất hiện trong pháp luật Việt Nam từ rất lâu.Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015, người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Vậy Người làm chứng theo luật công chứng năm 2014 được hiểu như thế nào? Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây để làm rõ.
Người Làm Chứng Theo Luật Công Chứng Năm 2014
Người làm chứng theo luật công chứng năm 2014

1. Người làm chứng theo luật công chứng năm 2014

Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng.

Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng.

Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định.

Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người phiên dịch và người làm chứng trong chứng thực hợp đồng, giao dịch như sau:

2. Người làm chứng theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP do người yêu cầu chứng thực bố trí. Trường hợp người yêu cầu chứng thực không bố trí được thì đề nghị cơ quan thực hiện chứng thực chỉ định người làm chứng. Người làm chứng phải xuất trình giấy tờ tùy thân còn giá trị sử dụng để người thực hiện chứng thực kiểm tra; ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch.

Ngoài ra thì  Điều 36. Thủ tục chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định:

Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực. Trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu tại cơ quan thực hiện chứng thực thì có thể ký trước vào hợp đồng; người thực hiện chứng thực phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện chứng thực, nếu nghi ngờ chữ ký trong hợp đồng khác với chữ ký mẫu thì yêu cầu người đó ký trước mặt.
Trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký được thì phải điểm chỉ; nếu người đó không đọc được, không nghe được, không ký, không điểm chỉ được thì phải có 02 (hai) người làm chứng. Người làm chứng phải có đủ năng lực hành vi dân sự và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch.

2. Bàn về vai trò của người làm chứng trong lĩnh vực công chứng

Từ nội dung những quy định trên, có thể đưa ra một số nhận xét về người làm chứng trong hoạt động công chứng: (i) Vai trò của người làm chứng trong hoạt động công chứng luôn được pháp luật ghi nhận; (ii) Người làm chứng có thể xuất hiện trong hai trường hợp: Thứ nhất là, căn cứ theo loại hình giao dịch được xác lập mà theo quy định của pháp luật phải có người làm chứng. Thứ hai là, dựa trên tình trạng thể chất của cá nhân người yêu cầu công chứng, cho dù cá nhân này giao kết bất kỳ loại giao dịch nào; (iii) Người làm chứng trong hoạt động công chứng đóng vai trò là người làm chứng một cách chủ động, khác biệt hoàn toàn với vai trò của người làm chứng trong pháp luật tố tụng; (iv) Về mặt nguyên tắc, người ta có thể yêu cầu sự hiện diện của người làm chứng dựa theo hai cách. Cách thứ nhất, người yêu cầu công chứng mời. Cách thứ hai, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định người làm chứng; (v) Một số quy định khác có liên quan đến người làm chứng trong hoạt động công chứng như: Tiêu chuẩn của người làm chứng, cách thức thể hiện vai trò, trách nhiệm của người làm chứng... cũng đã được đề cập đến; (vi) Vai trò của người làm chứng trong hoạt động công chứng chỉ dừng lại ở mức độ trợ giúp cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ nội dung văn bản công chứng, quyền và nghĩa vụ của bản thân hay khi người yêu cầu công chứng gặp trở ngại trong việc biểu đạt ý chí mà thôi.
Tuy nhiên, hoạt động công chứng gắn liền với pháp luật nội dung điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy, không thể bỏ qua các quy định có liên quan đến người làm chứng được ghi nhận trong những văn bản pháp luật này. Trong Bộ luật Dân sự năm 2015, vai trò của người làm chứng chỉ được đề cập tới trong việc lập di chúc: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”[15]. “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”[16]. “Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”[17]. “Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”[18].
Từ các quy định nêu trên, tất cả các loại di chúc đều phải được thể hiện dưới hình thức văn bản và điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích của công chứng viên là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch bằng văn bản. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến có rất nhiều điểm tương đồng giữa người làm chứng được quy định trong pháp luật dân sự và người làm chứng trong pháp luật công chứng. Tuy nhiên, giữa hai cách quy định về người làm chứng còn tồn tại một số điểm khác biệt. Đơn cử, nếu trở thành người làm chứng theo pháp luật công chứng, phải “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”, trong khi theo pháp luật dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có thể đóng vai trò người làm chứng. Chúng tôi cho rằng, vai trò của người làm chứng trong hoạt động công chứng chỉ dừng lại ở việc trợ giúp cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ nội dung văn bản công chứng, quyền và nghĩa vụ của bản thân hay khi người yêu cầu công chứng gặp trở ngại trong việc biểu đạt ý chí. Tuy nhiên, từ những quy định của pháp luật liên quan tới người làm chứng trong việc lập di chúc, các nhà làm luật dường như có một cách nhìn khác về vai trò của người làm chứng trong tương quan so sánh với quy định được ghi nhận trong pháp luật công chứng. Nói theo cách khác, bên cạnh vai trò bảo đảm cho người lập di chúc hoàn toàn có thể hiểu được nội dung bản di chúc cũng như trợ giúp người lập di chúc biểu đạt ý chí của mình trên bản di chúc đó, chúng ta thấy, trong tình huống được dự liệu tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, người làm chứng đã đảm nhiệm một vai trò lớn hơn rất nhiều. Người làm chứng không những đã thể hiện, diễn đạt..., mà còn khẳng định thay ý chí của người lập di chúc thông qua việc “ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” vào bản di chúc. Tuy nhiên, soi chiếu quy định vừa nêu dưới góc độ pháp luật công chứng và chứng thực hiện hành, chúng ta thấy tính khả thi của nội dung khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 là không cao[19]. Bên cạnh đó, trong trường hợp di chúc có người làm chứng, khi người thừa kế tiến hành phân chia di sản theo di chúc, công chứng viên có cần yêu cầu sự hiện diện của những người làm chứng hay không? Nếu có thì sẽ phải giải quyết ra sao nếu một hoặc cả hai người làm chứng đều đã chết hoặc đơn giản hơn là không thể liên lạc được?

Trên đây là các nội dung giải đáp của chúng tôi về Người làm chứng theo luật công chứng năm 2014. Trong quá trình tìm hiểu, nếu như các bạn cần Công ty Luật ACC hướng dẫn các vấn đề pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua các thông tin sau:

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo