Khi phát sinh nhu cầu tìm hiểu các vấn đề pháp lý, chủ thể thường tra cứu các văn bản pháp luật để thực hiện đúng theo quy định, tránh những rắc rối về sau. Trong quá trình nghiên cứu đó, chủ thể thường gặp văn bản có tên là “nghị quyết liên tịch”. Vậy, nghị quyết liên tịch là gì? Hãy cùng theo dõi bài viết bên dưới của ACC để được giải đáp thắc mắc và biết thêm thông tin chi tiết về nghị quyết liên tịch là gì.

Nghị quyết liên tịch là gì?
1. Nghị quyết liên tịch là gì?
Thắc mắc về nghị quyết liên tịch là gì được giải đáp như sau:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, sửa đổi năm 2020 thì Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là văn bản thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Cũng căn cứ theo quy định tại Điều 18 của Luật này thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
2. Xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch.
Sau khi tìm hiểu khái niệm nghị quyết liên tịch là gì, việc nắm được các quy định liên quan đến việc xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch là rất cần thiết
Theo đó tại Điều 109 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, sửa đổi năm 2020 thì:
Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội phân công cơ quan chủ trì soạn thảo; dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.
Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.
Trong quá trình soạn thảo dự thảo nghị quyết liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này.
Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được Bộ Tư pháp thẩm định trước khi trình Chính phủ; Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hồ sơ, thời hạn, nội dung thẩm định theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 58 của Luật này. Hồ sơ, thời hạn, nội dung thẩm tra theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này.
Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.
Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành nghị quyết liên tịch.
Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng ký ban hành nghị quyết liên tịch.
3. Các câu hỏi thường gặp.
3.1. Nghị quyết liên tịch do cơ quan nào ban hành?
Nghị quyết liên tịch do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành.
3.2.Những lưu ý khi soạn thảo nghị quyết liên tịch là gì?
Trước hết, các cơ quan có liên quan được giao soạn thảo nghị quyết liên tịch cần tổ chức buổi họp để thảo luận, phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản.
Cơ quan, tổ chức được phân công soạn thảo nghị quyết liên tịch cần phải nghiên cứu kỹ các quy định trong các văn bản có liên quan như luật, pháp lệnh, nghị định ... để xác định rõ cần phải hướng dẫn những nội dung gì tại nghị quyết liên tịch, vì các văn bản đó là cơ sơ pháp lý để soạn thảo nghị quyết đó. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải khẳng định được sự cần thiết phải ban hành nghị quyết liên tịch. Ngoài việc chứng minh sự cần thiết ban hành văn bản, cơ quan tổ chức chủ trì còn phải xác định được phạm vi và đối tượng điều chỉnh của nghị quyết liên tịch, tức là những nội dung mà nghị quyết liên tịch cần hướng dẫn. Những nội dung cơ bản thường được trình bày theo phần, mục, khoản với một cơ cấu hợp lý. Ngôn ngữ pháp lý phù hợp với hình thức văn bản. Thông thường ngôn ngữ pháp lý trong nghị quyết hướng dẫn được thể hiện mềm dẻo hơn ngôn từ trong luật, pháp lệnh, nghị định ... vì các văn bản này mang tính chất hướng dẫn. Do vây, cần thể hiện sao cho rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu.
Tổ chức việc rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cơ quan, tổ chức soạn thảo phải tập hợp văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề cần phải soạn thảo nghị quyết liên tịch và đánh giá thực trạng các văn bản pháp luật đó để làm cơ sở cho việc đưa ra các quy định phù hợp, thống nhất, đồng bộ với các văn bản đó.
Tiến hành soạn thảo văn bản. Trong quá trình soạn thảo văn bản cần lưu ý:
- Nội dung hướng dẫn của nghị quyết liên tịch không được quy định những nội dung mới mà luật, pháp lệnh, nghị định ... chưa quy định. Không được hướng dẫn trái với nội dung của các văn bản nêu trên. Cần phải hướng dẫn cho rõ, cụ thể hơn và nếu cần thì nên có ví dụ để minh hoạ.
Ngoài ra, trong quá trình soạn thảo nếu thấy cần thiết thì cơ quan, tổ chức được phân công soạn thảo có thể phối hợp với các cơ quan hữu quan đến các Bộ, ngành, địa phương để tìm hiểu thêm về một số tình hình thực tế về vấn đề mà cơ quan, tổ chức quan tâm để quy định hoặc hướng dẫn bảo đảm tính hiệu quả.
Sau khi có dự thảo, cơ quan, tổ chức được phân công chủ trì soạn thảo phải có biện pháp thích hợp để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức cùng phối hợp soạn thảo nghị quyết, liên tịch và các cơ quan, ngành hữu quan khác có liên quan. Thông thường, khi có dự thảo lần thứ nhất, cơ quan, tổ chức được phân công chủ trì soạn thảo mời các cơ quan cùng phối hợp soạn thảo văn bản đến họp để lấy ý kiến.
Đối với dự thảo liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp này, đại diện Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là thành viên của Tổ soạn thảo cho nên các cơ quan này có trách nhiệm tổ chức lấy kiến của các thành viên Hội đồng thẩm phán, thành viên Uỷ ban Kiểm sát dưới các hình thức hợp lý.
Sau khi đã có ý kiến của các cơ quan nêu trên, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo. Trong quá trình tập hợp ý kiến cần phân ra hai loại ý kiến:
- Các loại ý kiến cơ quan, tổ chức soạn thảo có thể tiếp thu để chỉnh lý văn bản;
- Các loại ý kiến cần phải cân nhắc, xem xét thêm hoặc không thể tiếp thu để chỉnh lý văn bản.
Sau khi chỉnh lý dự thảo, các cơ quan, tổ chức được phân công soạn thảo văn bản cần tổ chức cuộc họp với các cơ quan, tổ chức đã được phân công phối hợp soạn thảo nghị quyết liên tịch và các cơ quan hữu quan khác một lần nữa để xem xét việc chỉnh lý có phù hợp với các ý kiến đã đóng góp hay chưa. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo không tiếp thu hết tất cả các ý kiến mà các cơ quan hữu quan đã đóng góp, thì phải có lý giải rõ ràng và phải đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ chính kiến của mình. Tuy nhiên , nếu trong quá trình thảo luận tại cuộc họp các cơ quan, tổ chức tham dự đã đưa ra các quan điểm đúng, rõ ràng để bảo vệ ý kiến của mình đã đóng góp và cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo cho rằng những ý kiến đó hợp lý thì phải tiếp thu để chỉnh lý. Trong trường hợp vẫn còn các ý kiến khác nhau thì các thành viên trong tổ soạn thảo phải báo các với Thủ trưởng của cơ quan, tổ chức mình để xin ý kiến.
Cơ quan, tổ chức được phân công soạn thảo có trách nhiệm báo cáo với Thủ trưởng của cơ quan, tổ chức phụ trách trực tiếp về quá trình soạn thảo, nội dung và những vướng mắc về các quan điểm còn khác nhau giữa các cơ quan hữu quan. Thủ trưởng của cơ quan, tổ chức được phân công chủ trì soạn thảo nghị quyết liên tịch tổ chức cuộc họp với các Thủ trưởng của các cơ quan, tổ chức phối hợp soạn thảo các văn bản đó để trao đổi các vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong quá trình soạn thảo các văn bản nêu trên.
Sau khi các cơ quan hữu quan đã thống nhất ý kiến về các nội dung đã được quy định trong dự thảo thì Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cùng ký nghị quyết liên tịch.
Các vấn đề pháp lý có liên quan đến nghị quyết liên tịch là gì cũng như các quy định quan trọng khác đã được trình bày cụ thể và chi tiết trong bài viết. Khi nắm được thông tin nghị quyết liên tịch là gì sẽ giúp chủ thể xác định được nghị quyết liên tịch dễ dàng hơn và tránh hoang mang trong quá trình tra cứu văn bản pháp luật.
Nếu quý khách hàng vẫn còn thắc mắc liên quan đến nghị quyết liên tịch là gì cũng như các vấn đề có liên quan, hãy liên hệ ngay với ACC.
Công ty luật ACC chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong thời gian sớm nhất có thể.
Gọi trực tiếp cho chúng tôi theo hotline 1900.3330 để được tư vấn chi tiết.
Nội dung bài viết:
Bình luận