1. Mẫu tờ trình bầu bổ sung ban chấp hành công đoàn mới nhất:
Liên Đoàn Lao Động….(1) Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Công Đoàn Cơ Sở…..(2) Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: …../TTr-CĐCS ….ngày……tháng….năm…
TỜ TRÌNH
Về việc chuẩn y bầu bổ sung Ban chấp hành Công đoàn Cơ sở
Nhiệm kỳ …… – ………(3)
Kính gửi: Liên đoàn Lao động Quận/Huyện ……..(4)………..
– Căn cứ Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa……(5).
– Căn cứ vào kết quả bầu bổ sung Ban chấp hành Công đoàn cơ sở (Uỷ viên Ban chấp hành, chức danh Phó Chủ tịch và Chủ tịch) Công đoàn cơ sở ………………….. ngày ….. / ….. / ……
Ban Chấp hành CĐCS ……………………………… kính đề nghị ban Thường vụ Liên đoàn lao động quận/huyện ……………………. chuẩn y bổ sung Ban chấp hành Công đoàn (Uỷ viên Ban chấp hành, chức danh Phó Chủ tịch và Chủ tịch) Công đoàn cơ sở ……………………………. cho các đồng chí có tên sau đây:
Đồng chí:……………………………….: Chủ tịch Công đoàn cơ sở
Đồng chí:……………………………….: Phó Chủ tịch Công đoàn cơ sở
Đồng chí:……………………………….: Uỷ viên Ban chấp hành Công đoàn cơ sở
Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở ………………………………….. rất mong được sự chấp thuận của Liên đoàn Lao động quận/huyện để các đồng chí có đủ tư cách pháp nhân và hoàn thành công việc được giao./.
Nơi nhận: TM. Ban Chấp Hành
– Như trên; Chủ Tịch
– Lưu: CĐCS
Hướng dẫn:
(1) Tên Liên đoàn lao động. Ví dụ Liên đoàn lao động Thành phố Hà Nội
(2) Tên công đoàn cơ sở.
(3) Số nhiệm kỳ của Đại hội công đoàn. Ví dụ Nhiệm kỳ ….-……
(4) Tên Liên đoàn lao động cấp quận/huyện. Ví dụ Liên đoàn lao động quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
(5) Tên số khoá công đoàn Việt Nam. Ví dụ Công đoàn Việt Nam khoá XII năm …..
2. Quy định về ban chấp hành công đoàn:
2.1. Công đoàn được hiểu như thế nào?

Tại Điều 1 của Luật Công đoàn 2012 quy định:
“Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì công đoàn bản chất chính là đại diện của giai cấp công nhân và có tính quần chúng, nó còn là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và có quan hệ hợp tác với Nhà nước, phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức xã hội khác nhằm mục đích chăm lo và bảo vệ quyền lợi cho người lao động hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Công đoàn được thành lập trên cơ sở tự nguyện và những người lao động là người Việt Nam làm việc trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đều có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.
2.2. Ban chấp hành công đoàn được hiểu như thế nào?
Ban chấp hành công đoàn là đại diện cho đoàn viên, người lao động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; là cơ quan đại diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
3. Hệ thống công đoàn:
Điều 7 Luật Công đoàn 2012 quy định: Hệ thống công đoàn gồm Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp hoạt động theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
Như vậy, trong hệ thống công đoàn thì Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cấp cao nhất, hệ thống công đoàn gồm có 4 cấp.
Cấp thứ nhất là cấp Trung ương, ở cấp này chỉ có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau đó là cấp tỉnh, ngành Trung ương, cấp này bao gồm Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Công đoàn ngành Trung ương và tương đương. Cấp thứ ba là cấp trên trực tiếp so với cấp cơ sở. Ở cấp này có công đoàn cấp huyện, công đoàn ngành địa phương, công đoàn khu công nghiệp, công đoàn xí nghiệp và các công đoàn cơ sở khác. Cấp cuối cùng là cấp cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở. 5 năm đại hội công đoàn các cấp tiến hành một lần (trừ trường hợp đặc biệt khác) do Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn quyết định và tổ chức. Quyền hạn của Đại hội Công đoàn như sau:
- Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn cấp trên;
– Lập và thông qua phương hướng nhiệm vụ tiếp theo và xác định nhiệm vụ của nhiệm vụ tiếp theo.
– Thảo luận, đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội công đoàn cấp trên.
– Bầu ban chấp hành công đoàn và bầu đoàn đại biểu đi dự đại hội công đoàn cấp trên.
– Thông qua Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
Đối với hội nghị đại biểu, đại hội công đoàn các cấp được tiến hành nếu cấp trên trực tiếp đồng ý và xét thấy cần thiết. Trường hợp không tổ chức được thì tổ chức họp Ban chấp hành công đoàn mở rộng nếu được công đoàn cấp trên trực tiếp đồng ý. Nhiệm vụ của các hội nghị này là:
– Kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội, việc hoàn thành phương hướng nhiệm vụ và thông qua chương trình, kế hoạch hoạt động của công đoàn.
- Bầu bổ sung Ban chấp hành công đoàn và đại biểu đi dự đại hội hoặc hội nghị đại biểu công đoàn cấp trên (nếu có).
Như vậy, việc bầu bổ sung ban chấp hành công đoàn sẽ được tiến hành trong thời gian tổ chức đại hội đại biểu hoặc đại hội công đoàn các cấp.
4. Nội dung tờ trình bầu bổ sung Ban chấp hành công đoàn:
Tờ trình bầu BCH công đoàn bổ sung gồm những nội dung sau:
– Thông tin từ Liên đoàn Lao động và công đoàn cơ sở,
– Quốc hiệu và tiền tệ
- Tiêu đề báo cáo. Ví dụ Báo cáo về việc thông qua bầu bổ sung Ban chấp hành công đoàn nhiệm kỳ....
– Ghi rõ căn cứ báo cáo về việc bầu bổ sung ban chấp hành công đoàn (ví dụ: trên cơ sở Công đoàn Việt Nam điều lệ công đoàn,…)
- Ghi rõ trên cơ sở biên bản bầu ban chấp hành công đoàn và kết quả bầu cử. - Nội dung gợi ý:
Đề nghị Ban Thường vụ Đoàn cấp Quận/Huyện/Đoàn cơ sở lãnh đạo công nhận bầu bổ sung các chức danh như: Ủy viên BCH Đoàn, Chủ tịch, Phó Chủ tịch...
Họ, tên những người được bầu bổ sung và các chức danh.
5. Chức năng, quyền hạn của ban chấp hành công đoàn các cấp:
Ban chấp hành công đoàn các cấp có chức năng, quyền hạn chủ yếu sau đây:
– Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên và người lao động trong điều kiện phân quyền.
- Tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn cùng cấp.
- Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, công đoàn cấp trên.
- Chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động của công đoàn cấp dưới.
– Quyết định thành lập, quyết định sáp nhập, quyết định chia, hợp nhất, giải thể, chuyển loại, giáng cấp công đoàn cấp dưới và công nhận ban chấp hành công đoàn cấp dưới.
– Bầu Đoàn Chủ tịch (đối với BCH Tổng Liên đoàn), bầu Ban Thường vụ (đối với BCH Đoàn từ 9 ủy viên trở lên); bầu các chức danh ban chấp hành, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra công đoàn cùng cấp.
– Đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cán bộ công đoàn hoạt động; có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ công đoàn khi quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ bị xâm phạm; Ban chấp hành công đoàn cấp trên có trách nhiệm đại diện, hỗ trợ, giúp đỡ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thương lượng tập thể, thực hiện quyền tổ chức và tiến hành đình công theo quy định của pháp luật. – Tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn của lãnh đạo và đoàn viên trong các cuộc họp của ban chấp hành.
- Định kỳ báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động công đoàn cùng cấp với cấp uỷ cùng cấp (nếu có), báo cáo công đoàn cấp trên và thông báo cho công đoàn cấp dưới.
– Chịu trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản và các hoạt động kinh tế của tập đoàn. Cơ sở pháp lý: Luật Công đoàn 2012
Nội dung bài viết:
Bình luận