Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 270b-NQ/HĐNN8

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ. Sau đây là một vài nội dung của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 270b-NQ/HĐNN8.

Thue Tieu Thu Dac Biet La Gi
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 270b-NQ/HĐNN8

1. Thuế tiêu thụ đặc biệt là gì?

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.

Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: chẳng hạn ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt,ở Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt; ở nước ta, tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951.

Ðến năm 1990 Bộ tài chính soạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế hàng hóa thành thuế tiêu thụ đặc biệt và được Quốc hội thông qua ngày 30- 6- 1990.

Sau đó được sửa đổi bổ sung tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 9 và thông qua ngày 5- 7 -1993. Ðến tháng 10- 1995 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt lại được sửa đổi, bổ sung lần nữa.

Ðể phát huy vai trò của luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong điều tiết sản xuất, tiêu dùng xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý, tăng cường quản lý sản xuất kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ; ngày 20- 5- 1998 Quốc hội đã thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1- 1- 1999 thay thế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 và hai đạo luật sửa đổi, bổ sung ban hành năm 1993 và năm 1995.

2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt

Là một loại thuộc tiêu dùng, song thuế tiêu thụ đặc biệt có những đặc điểm giống như sau :

– Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước qui định hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng…; kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc.

– Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước quy định rất cao vì thuế đánh vào một số hàng hóa dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người và có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người trong xã hội.

– Cách thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước cũng giống nhau, tức là nhà nước chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

3. Tầm quan trọng của thuế tiêu thụ đặc biệt

Xuất phát từ đặc điểm chung đã được trình bày ở phần trên, do đó thuế tiêu thụ đặc biệt có tầm quan trọng như sau:

– Thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước.

– Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẩn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội.

– Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó.

– Việc ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh,lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này.

4. Thuộc tính pháp lý của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990

  • Số hiệu văn bản: 270B-NQ/HĐNN8
  • Loại văn bản: Luật
  • Cơ quan ban hành: Quốc hội
  • Ngày ban hành: 30-06-1990
  • Ngày có hiệu lực: 01-10-1990
  • Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 01-09-1993
  • Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 01-01-1996
  • Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 01-01-1999
  • Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
  • Thời gian duy trì hiệu lực: 3014 ngày (8 năm 3 tháng 4 ngày)
  • Ngày hết hiệu lực: 01-01-1999

5. Nội dung của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990

Đạo luật quy định chế độ thu thuế đối với tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa thuộc danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, được Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30.6.1990, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.10.1990.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là nhằm điều tiết sản xuất, tiêu dùng và thu nhập của người tiêu dùng đối với một số hàng hóa, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với các đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa thuộc danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Ở Việt Nam, trước khi có Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990, Nhà nước thu thuế hàng hóa (tương tự thuế tiêu thụ đặc biệt) nhưng chỉ áp dụng đối với thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Việc cải cách chế độ thu ngân sách nhà nước trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 4 năm 1989, thực hiện theo nguyên tắc là thuế áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế đã đặt ra yêu cầu bảo đảm sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế. Thực hiện nguyên tắc đó, Luật này là văn bản luật đầu tiên quy định thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tất cả các thành phần kinh tế. Luật gồm Lời nói đầu, 8 chương với 34 điều và có những nội dung cơ bản như sau: 1) Quy định tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt; nguyên tắc thu thuế tiêu thụ đặc biệt; 2) Quy định danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (thuốc lá, rượu bia các loại, pháo, bài lá, vàng mã); 3) Quy định căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt; 4) Quy định giảm, miễn thuế tiêu thụ đặc biệt; 5) Quy định xử lý vi phạm, khen thưởng, khiếu nại liên quan đến thu, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 có một số hạn chế cơ bản sau: diện hàng hóa chịu thuế chỉ bao gồm hàng hóa sản xuất trong nước, không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động cung ứng dịch vụ; danh mục hàng hóa chịu thuế còn ít, chưa phản ánh đúng nhu cầu điều tiết sản xuất, tiêu dùng của xã hội.

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành đã quy định một phương thức thu nộp thuế mới, đối với xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế thị trường có những quy định chưa thật chặt chẽ. Cũng vì vậy, để bảo đảm tính khả thi, tính hiệu quả của các quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt vào năm 1993 và năm 1995, ngày 20.8.1998 Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3 sửa đổi, bổ sung, ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1999 và năm 2003, Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 3, ngày 17.6.2003 ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đảm bảo để các quy định pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt kịp thời đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực nộp và thu thuế tiêu thụ đặc biệt, bảo đảm được nguồn thu của ngân sách nhà nước. Đồng thời, khuyến khích được các đối tượng nộp thuế ngày càng phải đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo