Luật bảo hiểm nhân thọ dần dần trở nên được nhiều người quan tâm, khách hàng vừa có thể tích lũy tài sản và bảo vệ cho chính bản thân người thân trong gia đình. Sau đây là: Những quy định về điều kiện kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm nhân thọ
Hệ thống các văn bản quy phạm phát luật liên quan đến bảo hiểm nhân thọ còn giá trị thực thi hiện nay là:
- Luật Kinh doanh bảo hiểm 24/2000/QH10: Quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Nghị định 45/2007/NĐ-CP: Quy định chi tiết về các điều luật kinh doanh bảo hiểm
- Nghị định 46/2007/NĐ-CP: Quy định về chế độ tài chính với các doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
- Luật sửa đổi bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm 61/2010/QH12: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm.
- Nghị định 123/2011/NĐ-CP: Quy định chi tiết một số điều luật sửa đổi bổ sung của luật kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi bổ sung nghị định 45/2007/ND-CP.
- Thông tư 124/2012/TT-BTC: Hướng dẫn thi hành nghị nghị 45/2007/NĐ-CP và luật sửa đổi bổ sung luật Kinh doanh bảo hiểm.
- Thông tư 125/2012/TT-BTC: Quy định về các khoản mục chi phí trong kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.
- Thông tư 232/2012/TT-BTC: Hướng dẫn kế toán áp dụng với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
- Nghị định 98/2013/NĐ-CP: Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số.
- Nghị định 68/2014/NĐ-CP: Sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 45/2007/NĐ-CP.
- Nghị định 12/2015/NĐ-CP: Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật và thuế sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế.
- Quyết định 15/QĐ-QLBH: Ban hành quy chế tổ chức thi, cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm.
- Nghị Định 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.

Các trường hợp bảo hiểm nhân thọ bị vô hiệu
Hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu thì giá trị phát lý cũng mất đi, người mua bảo hiểm không thể nhận được quyền lợi tương ứng với các thỏa thuận của hợp đồng.
Có hai loại vô hiệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Vô hiệu toàn phần và vô hiệu một phần. Vô hiệu toàn phần khi tất cả các điều khoản và chính sách thỏa thuận trước đó vi phạm quy định pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội. Hợp đồng vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của hợp đồng không có hiệu lực nhưng không ảnh hưởng đến tính hiệu lực của các phần còn lại trong giao dịch.
Không đóng phí bảo hiểm đúng hạn và đầy đủ
Theo luật linh doanh bảo hiểm, nếu bên mua đảm bảo không đóng phí đúng hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể gia hạn đóng phí tối đa 60 ngày. Trong thời gian gia hạn, hợp đồng vẫn duy trì hiệu lực. Tuy nhiên nếu hết thời hạn gia hạn mà người tham gia vẫn chưa đóng phí thì sẽ phát sinh 2 trường hợp:
- Hợp đòng bảo hiểm không có giá trị hoàn lại: Hợp đồng vô hiệu và người tham gia không được hoàn phí bảo hiểm đã đóng.
- Công ty bảo hiểm khấu trừ các khoản quyền lợi, bảo tức và lãi tích lũy của hợp đồng.
Cung cấp thông tin không trung thực
- Nếu người mua cung cấp thông tin trung thực về tuổi tác, tình trạng sức khỏe, nghề nghiệp, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành chi trả quyền lợi đúng theo thỏa thuận.
- Trường hợp người mua cố tình khai báo sai sự thật nhằm trục lợi, khi rủi ro xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền không bồi thường cho người tham gia đồng thời vô hiệu hóa hợp đồng.
Khoản tiền tám ứng và nợ lãi tương ứng lớn hơn giá trị hợp đồng
- Nếu hợp đồng bảo hiểm có giá trị tiền mặt thì người tham gia có thể yêu cầu công ty bảo hiểm tạm ứng tối đa 80%.
- Khi rủi ro xảy ra, người mua bảo hiểm được công ty trả quyền lợi bảo hiểm theo đúng thỏa thuận, nhưng trước đó, công ty sẽ trừ đi chi phí tạm ứng và lãi suất của khoản tạm ứng đó. Nếu trường hợp tổng khoản tạm ứng và nợ lãi tương ứng lớn hơn giá trị tiền mặt thì hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu. Không có khoản phí nào phát sinh cũng như không có quyền lợi bảo hiểm nào được bồi thường.
Nhờ người ký tên thay nhưng không có văn bản ủy quyền
- Theo luật bảo hiểm nhân thọ, người tham gia bảo hiểm hoặc người được hưởng bảo hiêm phải trực tiếp ký tên vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm.
- Nếu người tham gia bảo hiểm ủy quyền để điền thông tin trên hợp đồng thì trước đó phải có văn bản ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật.
- Trường hợp không có văn bản ủy quyền thì hợp đồng bảo hiểm vô hiệu, người tham gia không thể nhận được quyền lợi bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm không nộp phí cho doanh nghiệp bảo hiểm
- Trường hợp người mua nộp tiền bảo hiểm qua đại lý bảo hiểm nhưng đại lý không nộp hoặc nộp tiền bảo hiểm không đúng hạn có thể gây thiệt hại cho lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm.
Quy định về pháp luật về bảo hiểm nhân thọ
Tại mục 2, chương 2, từ điều 33 đến điều 42 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 quy định như sau:
- Đối tượng khi mua bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ, tính mạng của con người.
- Đối tượng khi mua bảo hiểm sức khỏe là sức khỏe của con người.
- Chủ thể mua bảo hiểm có quyền lợi được hiểm đối với các đối tượng sau:
- Bản thân khách hàng mua bảo hiểm
- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của khách hàng mua bảo hiểm
- Anh ruột, chị ruột hoặc những người có công nuôi dưỡng
- Khách hàng có quyền lợi về tài chính hoặc quan hệ lao động với công ty bảo hiểm
- Khách hàng phải đồng ý văn bản bên mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe cho mình.
- Khi ký hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền lợi được bảo hiểm.
- Đối với các hợp đồng bảo hiểm có thời hạn đến 1 năm, trong 21 ngày kể từ khi ký hợp đồng bảo hiểm, khách hàng mua bảo hiểm có quyền từ chối tham gia bảo hiểm. Khi khách hàng từ chối tham gia bảo hiểm nhân thì hợp đồng sẽ bị hủy bỏ, khách hàng sẽ được hoàn lại toàn bộ số phí đã đóng theo như thỏa thuận trên hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, công ty bảo hiểm không có quyền và nghĩa vụ phải bồi thường khi có vấn đề tai nạn.
- Công ty bảo hiểm cấp bảo hiểm tạm thời cho khách hàng kể từ thời điểm nhận được yêu cầu bảo hiểm và phí bảo hiểm tạm tính của khách hàng. Thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm là do bên công ty bảo hiểm và khách hàng thỏa thuận với nhau. Bảo hiểm tạm thời sẽ kết thúc sau khi công ty bảo hiểm chấp nhận hoặc từ chối trong các trường hợp đã không đúng như thỏa thuận.
- Không được giao kết hợp đồng với các trường hợp sau:
- Người chưa đủ tuổi thành niên, trừ trường hợp cha hoặc mẹ đồng ý bằng văn bản
- Người mất năng lực hành vi dân sự
- Người khó khăn trong nhận thức, không tự chủ được hành vi
- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Các trường hợp bảo hiểm nhân thọ không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm:
- Người mua bảo hiểm chết do tự tử
- Người mua bảo hiểm chết do lỗi cố ý
- Người mua bảo hiểm bị thi hành án tử hình
- Người mua bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do cố ý
- Ngoài ra, các trường hợp khác như đã thỏa thuận trên hợp đồng.
Quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm nhân thọ
Quyền lợi
- Được lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt đọng uy tín tại Việt Nam để mua bảo hiểm.
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm.
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ
- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
Quyền lợi
- Thực hiện thu phí theo thỏa thuận.
- Yêu cầu bên mua cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin trong hợp đồng.
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
- Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự.
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ
- Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.
- Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
- Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường.
- Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quy định khi dừng bảo hiểm nhân thọ sớm
- Về cơ bản, bảo hiểm nhân thọ là giải pháp tài chính vững vàng, đòi hỏi cam kết lâu dài từ người tham gia. Khi rút tiền bảo hiểm trước hạn quyền lợi của người tham gia sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều.
- Trường hợp rút tiền bảo hiểm trong 2 năm đầu: Người tham gia không được hoàn lại phí bảo hiểm đã đóng.
- Rút tiền bảo hiểm sau 2 năm và trước ngày đáo hạn: Người tham gia có thể được nhận 1 khoản tiền nhất định nhưng thấp hơn số tiền đóng trước đó.
Luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 2000
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Luật này điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.
- Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
Điều 2. Áp dụng Luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật có liên quan, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế
- Tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
- Các bên tham gia bảo hiểm có thể thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
- Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.
- Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Hoạt động môi giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
- Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
- Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.
- Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
- Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.
- Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
- Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.
- Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó.
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Điều 4. Bảo đảm của Nhà nước đối với kinh doanh bảo hiểm
- Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức kinh doanh bảo hiểm.
- Nhà nước đầu tư vốn và các nguồn lực khác để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh bảo hiểm phát triển, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm.
- Nhà nước có chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
Điều 5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Nhà nước thống nhất quản lý, có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá; khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam và tái đầu tư lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; tạo điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tăng cường hợp tác với nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm.
Điều 6. Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm
- Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam.
- Doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm.
Ngoài ra, bạn có thể đọc thêm Luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 2000 >>> TẠI ĐÂY
Luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 2010
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.
- Bổ sung khoản 19 và khoản 20 Điều 3 như sau:
“19. Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm đạt đến độ tuổi xác định được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm sức khoẻ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”
- Khoản 1 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.”
- Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm
- Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:
- a) Bảo hiểm trọn đời;
- b) Bảo hiểm sinh kỳ;
- c) Bảo hiểm tử kỳ;
- d) Bảo hiểm hỗn hợp;
- đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;
- e) Bảo hiểm liên kết đầu tư;
- g) Bảo hiểm hưu trí.
- Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
- a) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
- b) Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không;
- c) Bảo hiểm hàng không;
- d) Bảo hiểm xe cơ giới;
- đ) Bảo hiểm cháy, nổ;
- e) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;
- g) Bảo hiểm trách nhiệm;
- h) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
- i) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
- k) Bảo hiểm nông nghiệp.
- Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:
- a) Bảo hiểm tai nạn con người;
- b) Bảo hiểm y tế;
- c) Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ.
- Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định.
- Bộ Tài chính quy định Danh mục sản phẩm bảo hiểm.”
- Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 9. Tái bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài phải đạt hệ số tín nhiệm theo xếp hạng của công ty đánh giá tín nhiệm quốc tế do Bộ Tài chính quy định.”
- Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 10. Hợp tác, cạnh tranh và đấu thầu trong kinh doanh bảo hiểm
- Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hợp tác trong việc tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, giám định tổn thất, giải quyết quyền lợi bảo hiểm, đề phòng và hạn chế tổn thất, phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm bảo hiểm, đào tạo và quản lý đại lý bảo hiểm, chia sẻ thông tin để quản trị rủi ro.
- Doanh nghiệp bảo hiểm được cạnh tranh về điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm, mức phí, chất lượng dịch vụ, năng lực bảo hiểm và năng lực tài chính.
Việc cạnh tranh phải theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm; mức phí bảo hiểm phải phù hợp với điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm bảo hiểm.
- Dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản thuộc sở hữu nhà nước hoặc của doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện đấu thầu về điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm, mức phí, chất lượng dịch vụ, năng lực bảo hiểm và năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc đấu thầu phải bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định của Luật này và pháp luật về đấu thầu.
- Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- a) Cấu kết giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hoặc giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm nhằm phân chia thị trường bảo hiểm, khép kín dịch vụ bảo hiểm;
- b) Can thiệp trái pháp luật vào việc lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm;
- c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chỉ định, yêu cầu, ép buộc, ngăn cản tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm;
- d) Thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động, điều kiện bảo hiểm, làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
đ) Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác;
- e) Khuyến mại bất hợp pháp;
- g) Hành vi bất hợp pháp khác trong hợp tác, cạnh tranh và đấu thầu.”
Luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 2022

Trên đây, toàn bộ các thông tin liên quan đến luật bảo hiểm nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ sẽ là một công cụ tuyệt vời giúp mọi người đầu tư tích lũy, bảo vệ bản thân. Tuy nhiên, bảo hiểm nhân thọ cũng còn vài rủi ro cần phải lưu ý.
Nội dung bài viết:
Bình luận