1. Khái niệm quản lý hành chính Nhà nước?
Nguyên tắc thứ nhất được hiểu là “Điều cơ bản nhất định, nhất thiết phải tuân theo trong hàng loạt công việc”. Trong quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc cơ bản là những tư tưởng chủ yếu xuất phát từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý, bản chất của chế độ, được pháp luật quy định làm cơ sở cho hoạt động quản lý hành chính của nhà nước.
Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước: là tập hợp các quy phạm pháp luật hành chính mà nội dung đề cập đến những tư tưởng chủ yếu làm cơ sở để tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
2. Đặc điểm quản lý hành chính nhà nước
Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có những đặc điểm sau:
Mang tính chính trị sâu sắc như được viết trong các nghị quyết của đảng.
Tính pháp lý và tính áp dụng vì nó được định hình thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Tính khách quan vì chúng được xây dựng, đúc kết từ thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật khách quan của sự phát triển.
Chủ quan vì chúng do con người kiến tạo mà con người dựa vào nhận thức chủ quan để kiến tạo. Ổn định lớn nhưng không phải là một nguyên tắc bất di bất dịch. Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội, sự tích lũy kinh nghiệm và thành tựu khoa học về quản lý hành chính nhà nước.
Độc lập tương đối khỏi chính trị. Hệ thống chính trị của Nhà nước Việt Nam được thực hiện thông qua: các tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Mặt trận Tổ quốc...), bộ máy Nhà nước (Lập pháp, hành pháp, tư pháp). Trong hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước còn có các nguyên tắc đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Chính kiến là cơ sở để tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, và hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện tốt không chỉ đúng pháp luật (pháp luật) mà còn phải thực hiện đúng quan điểm chính trị (chính trị) đúng đắn. .
có hệ thống. Mỗi nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, các nguyên tắc này đan xen với nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc thực hiện thành công một nguyên tắc sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện hiệu quả một nguyên tắc khác. Vì vậy, các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, thống nhất và đây là thuộc tính vốn có của chúng.

3. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính
Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đa dạng về nội dung, thống nhất và liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, cần xác định chúng bao gồm những nguyên tắc cơ bản nào, phân loại chúng một cách khoa học để xác định vị trí, vai trò của từng nguyên tắc trong QLHCNN, từ đó xây dựng và vận dụng có hiệu quả hệ thống nguyên tắc vào thực tiễn của QLHCNN. của nhà nước. Hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước được thể hiện cụ thể ở hoạt động tổ chức, chúng bao gồm hai mặt: tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật.
Căn cứ vào cơ sở khoa học của quản lý nhà nước, chúng tôi chia các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước thành hai nhóm: nhóm nguyên tắc chính trị - xã hội và nhóm nguyên tắc kỹ thuật tổ chức.
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối vì yếu tố tổ chức kỹ thuật và chính trị của quản lý hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện đúng các nguyên tắc chính trị - xã hội, và việc thực hiện các nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật. .
Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm hai nhóm sau:
- Nhóm nguyên tắc chính trị - xã hội
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo quản lý hành chính Nhà nước;
Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý hành chính nhà nước;
Nguyên tắc tập trung dân chủ;
Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia;
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
- Nhóm nguyên tắc kỹ thuật tổ chức
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ;
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng. Phân định rạch ròi chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh.
4. Nguyên tắc chính trị - xã hội
4.1 Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng
Cơ sở pháp lý: Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, người lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội .
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước được thể hiện cụ thể trong các hình thức hoạt động của tổ chức Đảng:
Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước thông qua việc đưa ra các chủ trương, chỉ thị, chính sách trên các lĩnh vực hoạt động của quản lý hành chính nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quản lý hành chính của Nhà nước thể hiện ở công tác tổ chức và công tác cán bộ. Các tổ chức Đảng đã động viên, đào tạo những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, năng lực đảm nhận các công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, tham mưu bố trí cán bộ vào các chức danh lãnh đạo trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Đảng chỉ đạo quản lý hành chính nhà nước thông qua kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chỉ thị, chính sách của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua kiểm tra để xác định tính hiệu quả, thiết thực của các chủ trương, chính sách của Đảng, từ đó khắc phục những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với nền hành chính nhà nước còn được thể hiện thông qua uy tín, vai trò gương mẫu của tổ chức Đảng và cá nhân đảng viên. Đây là cơ sở để nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân và các cơ quan nhà nước. Đảng là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, thu hút người lao động tham gia thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các cấp quản lý.
4.2 Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa
Đây là nguyên tắc thể hiện một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì trên hết, tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp luật. Vì vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)
Trong lĩnh vực lập quy
Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hành chính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật
Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý theo pháp luật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn trọng những văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành.
Trong lĩnh vực tổ chức
Ðể đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước đòi hỏi việc thực hiện pháp chế phải trở thành chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý và ngay trong bộ máy quản lý cũng phải có những tổ chức chuyên môn thực hiện chức năng này. Vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tổ chức là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước, vi phạm mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau. Trong quản lý chung
Phát triển và bảo đảm các quyền dân chủ của công dân. Mọi quyết định và hành vi hành chính phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp hoặc gián tiếp của công dân. Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến pháp.
Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật
Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm về những sai sót của mình trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xâm hại đến lợi ích hợp pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phải bồi thường thiệt hại cho công chúng. Vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền với chế độ trách nhiệm chặt chẽ đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách nhiệm giải trình này được thông qua luật pháp và hệ thống kỷ luật nhà nước. Cụ thể, yêu cầu quản lý được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát và quyền tài phán hành chính để pháp luật được chấp hành thống nhất, mọi hành vi vi phạm đều được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật. Việc kiểm tra, giám sát này trước hết phải do chủ thể quản lý đảm bảo. Do đó, hoạt động tự thanh tra với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp cũng rất cần thiết, cũng như hoạt động thanh tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tương ứng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta, vì vậy, hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước phải tôn trọng nguyên tắc này. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa bảo đảm mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định: Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.
Trong hoạt động của mình, cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan điện lực nhà nước và có trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan điện lực nhà nước cùng cấp. - Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương.
Tuân phục ở đây là tuân theo mệnh lệnh chính đáng trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Mặt khác, chính quyền trung ương cũng cần tôn trọng ý kiến của cấp dưới và địa phương về tổ chức, hoạt động và các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước.
Cần tạo điều kiện cho cấp dưới, địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, nhằm thực hiện tích cực “thẩm quyền” của mình. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng quan liêu, duy ý chí, làm mất tính chủ động, sáng tạo của địa phương và cấp dưới. - Phân cấp quản lý.
Là sự phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy hành chính nhà nước. Mỗi cấp quản lý có mục tiêu, nhiệm vụ, quyền hạn và phương pháp cần thiết để thực hiện tốt nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình.
– Hướng về cơ sở
Hướng về cơ sở là sự mở rộng dân chủ của các cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt động của cả hệ thống các đơn vị kinh tế - văn hóa - xã hội trực thuộc. Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật chất trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân. Vì vậy, nhà nước phải có chính sách quản lý nhất quán, chặt chẽ, cung cấp, hỗ trợ về vật chất để tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở hoạt động có hiệu quả.
– Phụ thuộc hai chiều vào cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc cấp dưới trùng lặp. Các cơ quan có thẩm quyền tổng hợp của nhà nước một mặt phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Nguyên tắc song trùng trong chính quyền nhà nước ở địa phương bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích của ngành với lợi ích của vùng lãnh thổ.
Nguyên tắc người tham gia quản lý hành chính nhà nước
Điều 2 – Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là sự liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Đóng góp gián tiếp:
Tham gia các hoạt động của cơ quan nhà nước
– Người lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là thành viên của cơ quan đó – họ được bầu làm đại biểu thông qua bầu cử hoặc với tư cách là công chức trong cơ quan nhà nước. Khi là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước, người lãnh đạo trực tiếp xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương, trong đó có vấn đề quản lý hành chính nhà nước. . Khi đảm nhận vị trí công chức, viên chức của nhà nước, người lao động sẽ trực tiếp sử dụng quyền lực của nhà nước, thực hiện vai trò làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và sẽ có điều kiện để chuyển hóa ý chí, nguyện vọng của mình. nguyện vọng của họ thành hiện thực là xây dựng xã hội giàu mạnh. quốc gia.
- Ngoài ra, người lao động được tham gia gián tiếp vào hoạt động của cơ quan nhà nước bằng cách thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng để đại diện cho mình trong các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hoặc địa phương. Đây là hình thức phổ biến nhất của sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động hành chính của nhà nước.
Tham gia các hoạt động của các tổ chức xã hội
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tích cực tham gia hoạt động của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ hữu hiệu để người lao động thực hiện quyền tham gia quản lý hành chính của Nhà nước. Thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động, sáng tạo của người lao động được phát huy. Đây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa bảo đảm dân chủ và mở rộng dân chủ ở nước ta. Tham gia trực tiếp:
Tham gia quyền tự chủ cơ bản
- Là hoạt động do chính người lao động thực hiện, đây là những hoạt động gần gũi, thiết thực với đời sống của người dân như: hoạt động bảo vệ an toàn trật tự, vệ sinh môi trường, v.v. Điều này diễn ra ở nơi ở, nơi làm việc và sinh hoạt nên nó mang tính chất tự quản của người dân.
– Thông qua các hoạt động tự chủ này, người lao động là chủ thể tham gia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của họ được tôn trọng và bảo đảm.
Trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính của Nhà nước
– Điều 53-Hiến pháp 1992 quy định: Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận về những vấn đề chung của đất nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, đoàn thể hoặc người trực tiếp thi hành .
- Kiểm tra cơ quan quản lý nhà nước.
– Tham gia trực tiếp với tư cách là thành viên kiêm nhiệm vào các hoạt động của cơ quan quản lý và cơ quan xã hội. – Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của cơ quan…
Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia
Điều 5 Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ các dân tộc”.
Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ: Nhà nước ưu tiên con em đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần trong học tập. Số cán bộ nhà nước là người dân tộc thiểu số còn đại diện cho một số cơ quan nhà nước, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích, giá trị của họ và những vấn đề quan trọng khác đối với đất nước.
Trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội:
Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng các công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một mặt khai thác tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng miền đất nước, bảo đảm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc.
Nhà nước có chính sách đúng đắn đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chức phân công lại lao động hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào các dân tộc thi đua nâng cao tay nghề trên mọi lĩnh vực.
5. Nguyên tắc tổ chức và kỹ thuật
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính.
Ngành là phạm trù chỉ tập hợp các đơn vị, tổ chức sản xuất, xí nghiệp có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc các tổ chức, đơn vị hoạt động theo cùng một mục đích. Có sự phân chia hoạt động theo ngành, tất yếu dẫn đến việc hình thành các hoạt động quản lý theo ngành.
Quản lý theo địa giới là quản lý trên một khu vực nhất định theo sự phân định địa giới hành chính nhà nước. Quản lý theo biên giới hành chính ở nước ta được thực hiện theo bốn cấp:
– Cấp trung ương (cấp nhà nước)
- Các tỉnh/TP trực thuộc TW;
– Quận, huyện, thành phố trực thuộc trung ương, thị xã thuộc tỉnh;
- Các huyện, thị, thành phố. Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính bao gồm việc xây dựng định hướng, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp lãnh thổ. Từ quy hoạch xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng sản xuất, đời sống của người dân sinh sống và làm việc trên lãnh thổ. Sau đó là sự phối hợp tổ chức hợp tác, quản lý thống nhất về khoa học và công nghệ, liên kết, liên doanh với các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng lãnh thổ.
Lập quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của lãnh thổ nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế hiệu quả từ trung ương đến địa phương.
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân sinh sống và làm việc trên một địa giới hành chính. Đầu tư kinh tế luôn được khuyến khích và chú ý trong quá trình xây dựng các công trình hạ tầng. Tuy nhiên, phải có quy hoạch và định hướng, tránh tình trạng “đầu tư trước, quy hoạch sau”, làm rối loạn phát triển và an cư, gây mất cân đối trong quản lý kinh tế - xã hội.
Tổ chức điều hòa, phối hợp, hợp tác giữa các đơn vị kinh tế trực thuộc Trung ương về các mặt kinh tế - xã hội trên lãnh thổ; bảo đảm các điều kiện của địa phương phục vụ định hướng phát triển của Trung ương và đa dạng hóa cơ hội, ngành nghề phát triển.
Tổ chức và chăm sóc đời sống của người dân trong một khu vực địa lý, độc lập với các cá nhân và tổ chức do chính quyền trung ương hoặc địa phương điều hành. Mặt khác, phải bảo đảm phù hợp với pháp luật, chính sách của địa phương, không trái với trung ương.
Sự kết hợp giữa quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng
Trong khi thực hiện hoạt động quản lý ngành, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác nhau như lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, quản lý và thực hiện thu chi, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện pháp luật... Do khối lượng công việc quản lý ngày càng nhiều và tính chất phức tạp, đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao nên nhu cầu quản lý theo chức năng luôn được đặt ra. Quản lý theo chức năng là quản lý theo những lĩnh vực chuyên biệt nhất định của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cơ quan quản lý chức năng là cơ quan có thẩm quyền quản lý một lĩnh vực chuyên môn hoặc một tập hợp các lĩnh vực chuyên môn có liên quan.
Quản lý ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả từng chức năng quản lý riêng của các đơn vị, tổ chức ngành, đồng thời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, bảo đảm mọi hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả.
Cơ quan quản lý chức năng có quyền ban hành quy phạm pháp luật cụ thể, pháp lệnh liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật có giá trị ràng buộc đối với cơ quan quản lý chuyên ngành.
Các cơ quan quản lý chức năng kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách do mình xây dựng, xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm chủ trương, chính sách này theo quy định của pháp luật. Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất và doanh nghiệp.
Theo Điều 15 Hiến pháp 1992, nền kinh tế nước ta là “nền kinh tế thị trường nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa”. Liên quan đến chức năng quản lý nền kinh tế của nhà nước, phát sinh một số vấn đề sau:
Cơ quan nhà nước xác định chiến lược, quy hoạch, định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý vững chắc, ổn định. Tổ chức kinh tế có nhiệm vụ triển khai, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh tế - xã hội của Nhà nước, thực hiện cơ chế thương mại, các quy chuẩn, tiêu chuẩn của Nhà nước và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có liên quan.
Chức năng của nhà nước là tổ chức, điều chỉnh nền kinh tế quốc dân bằng các biện pháp vĩ mô: thông qua các biện pháp kinh tế, hành chính tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất kinh doanh. Các tổ chức thương mại trực tiếp thực hiện các hoạt động như xây dựng, vận tải, ngân hàng, v.v. ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất thiết yếu cho xã hội, tránh tình trạng tư nhân độc quyền, tác động tiêu cực đến nền kinh tế quốc dân.
Việc quản lý trong một hành lang pháp lý chặt chẽ thông qua các cơ quan quản lý hành chính nhà nước sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế thông thoáng, tự chủ và đạt hiệu quả cao.
Nội dung bài viết:
Bình luận