messenger whatsapp viber zalo phone zalo mail

Luật công chứng năm 2006 quy định gì?

Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền. Thông qua hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng pháp luật giúp cho người dân có thể tin tưởng lựa chọn công chứng, chứng thực như một sự đảm bảo của nhà nước về mặt an toàn pháp lý đối với các giao dịch của mình. Các vấn đề chung liên quan đến công chứng được luật công chứng năm 2014 quy định tiếp tục kế thừa các nội dung của luật công chứng số 82/2006/QH11

15e

Công chứng là hoạt động quan trọng trong đời sống

1. Công chứng là gì?

Khoản 1, Điều 2, Luật công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Như vậy, Luật Công chứng năm 2014 là sự phát triển khái niệm của Luật công chứng số 82/2006/QH11

2. Luật Công chứng năm 2006 quy định gì?

Về cơ bản, Luật Công chứng năm 2006 quy định các vấn đề giống Luật Công chứng năm 2014 nhưng vẫn bộc lộ một số hạn chế như:

– Về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 15, Điều 17:

  • Những đối tượng được miễn đào tạo và tập sự nghề công chứng theo quy định trên là những người có chức danh chuyên ngành, có học hàm, học vị, họ là những người có trình độ pháp luật tương đối cao. Tuy nhiên, nghề công chứng là một nghề đặc thù, đòi hỏi ngoài những kiến thức về pháp luật và kiến thức về xã hội còn đặc biệt cần kỹ năng chuyên biệt riêng về công chứng. Thực tế đã chứng minh những trường hợp bổ nhiệm công chứng viên được miễn đào tạo và tập sự nghề chưa từng làm trong lĩnh vực công chứng trong thời gian qua khi hành nghề gặp rất nhiều lúng túng, điều này sẽ dẫn đến chất lượng đội ngũ công chứng viên không cao, và hệ quả kéo theo là các sản phẩm văn bản công chứng chất lượng thấp

– Về trình tự, thủ tục chung công chứng Hợp đồng, giao dịch quy định tại Điều 35, Điều 36:

  • Quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 36  về các giấy tờ cần nộp trong hồ sơ yêu cầu công chứng khá chi tiết, tuy nhiên quy định một số điểm còn chung chung, dẫn đến khi áp dụng trong thực tiễn còn nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất giữa các tổ chức hành nghề công chứng như quy định về: “Bản sao giấy tờ tùy thân” và “Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có”.

– Quy định về địa điểm công chứng tại Điều 39:

  • Theo quy định việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Việc quy định chung chung dẫn đến các tổ chức hành nghề công chứng lợi dụng các lý do để thực hiện công chứng ngoài trụ sở, làm cho vấn đề công chứng ngoài trụ sở thành vấn đề “nóng”, rất khó quản lý trong thời gian qua.

– Về quy định công chứng Hợp đồng thế chấp bất động sản tại Điều 47:

  • Khoản 3, Điều 47 quy định về việc công chứng một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải do công chứng viên đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu thực hiện công chứng trừ trường hợp công chứng viên công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu chuyển sang tổ chức hành nghề công chứng khác hoặc không còn hành nghề công chứng. Tuy nhiên trên thực tế có trường hợp công chứng viên công chứng lần đầu không rơi vào hai trường hợp trên, mà chỉ đang nghỉ phép hoặc đi vắng một thời gian, nếu áp dụng quy định trên thì phải chờ công chứng viên đó trở lại làm việc, như vậy tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ được bảo đảm có thể bị bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh vì phải mất thời gian chờ đợi công chứng viên về ký.

– Quy định về chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng Điều 54:

  • Quy định trên còn chưa phù hợp vì hồ sơ lưu trữ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ điều tra, xác minh nếu việc công chứng xảy ra tranh chấp, kiện cáo, mà các giấy tờ có liên quan trong hồ sơ yêu cầu công chứng là những căn cứ rất quan trọng để chứng minh tính xác thực, tính hợp pháp của văn bản công chứng

– Về quy định thu thù lao công chứng và các chi phí khác tại Điều 57:

  • Quy định việc thu thù lao công chứng khác do tổ chức hành nghề công chứng xác định, và chi phí khác do người yêu cầu công chứng và tổ chức hành nghề công chứng tự thoả thuận. Quy định trên còn chưa được phù hợp bởi dù mức thù lao và chi phí khác do tổ chức hành nghề công chứng xác định ha  thoả thuận với khách hàng thì người chịu thiệt thòi cuối cùng vẫn là người yêu cầu công chứng

– Về quy định việc khiếu nại trong hoạt động công chứng tại Điều 63:

  • Điều 63 chỉ quy định duy nhất một trường hợp giải quyết khiếu nại về hành vi từ chối công chứng của công chứng viên, trong khi đó hoạt động công chứng có rất nhiều các trường hợp khiếu nại như: Hành vi công chứng trái pháp luật của công chứng viên; hành vi thu phí công chứng sai quy định của tổ chức hành nghề công chứng…. Nếu rơi vào những trường hợp trên, áp dụng Luật Công chứng sẽ có các cách hiểu khác nhau

3. Vai trò, ý nghĩa của công chứng đối với đời sống xã hội

Có thể kể đến một số vai trò của hoạt động công chứng bao gồm:

  • Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia.
  • Thông qua hoạt động công chứng và các quy định xung quanh nó, pháp luật trở nên gần với hiện thực hơn, dần trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội.
  • Văn bản công chứng là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định trong quan hệ dân sự, tài sản.

Như vậy, thông qua bài viết trên giúp quý khách hàng trả lời được những nội dung chính trong Luật Công chứng số 85/2006/QH11. Có thể thấy rằng, việc công chứng giấy tờ, thủ tục công chứng theo quy định pháp luật là hoạt động quan trọng không thể thiếu trong giao dịch, làm chứng cứ pháp luật. Khi có nhu cầu tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này quý khách hàng liên hệ với ACC để nhận được thông tin mới nhất:

  • Hotline tư vấn pháp luật: 1900.3330
  • Zalo: 084.696.7979
  • Mail: info@accgroup.vn
Đánh giá post
✅ Thủ tục: ⭕ Cụ thể - Chi tiết
✅ Dịch vụ: ⭐ Trọn gói - Tận Tâm
✅ Zalo: ⭕ 0846967979
✅ Hỗ trợ: ⭐ Toàn quốc
✅ Hotline: ⭕ 1900.3330
NHẬN BÁO GIÁ

Liên Hệ Với Chúng Tôi

Vui lòng để lại thông tin, ACC sẽ gọi lại ngay

Tu Van Vien 2






    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.