Khiếu nại trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là yêu cầu về trách nhiệm của bên bị thiệt hại đối với bên gây thiệt hại trong thương mại quốc tế.
Theo pháp luật của hầu hết các quốc gia, khiếu nại được coi là bước đầu tiên bắt buộc trong một số lĩnh vực tranh chấp như tranh chấp hợp đồng ngoại thương, tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, v.v.
Để khiếu nại thành công, bên khiếu nại phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt như sau:
– Người khởi kiện phải viết đơn khởi kiện gồm 2 yếu tố chính: Lý do khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn.
– Gửi khiếu nại kèm theo các tài liệu hỗ trợ: biên bản giám định, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm, chứng từ vận tải, v.v. Giấy tờ chứng minh, tính toán mức độ thiệt hại.
2. Các trường hợp khiếu nại người bán
Để biết khiếu nại người bán trong những trường hợp nào, người mua cần dựa vào những căn cứ sau: Thứ nhất, trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương mà các bên đã ký kết. Hợp đồng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua. Do đó, khi quyền lợi của người mua bị người bán xâm phạm thì người mua có quyền khiếu nại người bán. Thứ hai: Theo điều ước quốc tế, luật áp dụng cho hợp đồng và thực tiễn mua bán quốc tế, người ta giải thích quyền của người mua không chỉ được quy định trong hợp đồng mà còn được quy định trong điều ước quốc tế, trong luật quốc gia áp dụng cho các hợp đồng và tập quán thương mại quốc tế. Vì vậy, khi các quyền này bị người bán vi phạm thì người mua cũng có quyền khiếu nại. Cụ thể, khiếu nại đối với người bán hàng thường bao gồm các trường hợp sau:
- Khiếu nại về thiếu số lượng, trọng lượng hàng hóa Người mua có quyền khiếu nại người bán về việc thiếu số lượng hàng hóa khi hàng hóa thực tế giao cho tàu tại cảng bốc ít hơn số lượng quy định trong hợp đồng . Người mua cũng có quyền yêu cầu cân nặng hàng hóa khi hàng hóa đóng trong bao không đủ so với bao bì hoặc trọng lượng ghi bên ngoài bao.
- Khiếu nại vỡ nợ, nếu bên bán giao hàng kém chất lượng so với chất lượng quy định trong hợp đồng, hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng khi hợp đồng không quy định gì về chất lượng thì bên mua có quyền khiếu nại. Khiếu nại với người bán về chất lượng hàng hóa.
- Khiếu nại về bao bì sơ sài, không đúng quy cách. Khi người bán giao hàng hóa có bao bì xấu, hoặc bao bì không phù hợp, tức là không đúng với loại bao bì đã quy định trong hợp đồng hoặc theo cách sử dụng thương mại, thì người mua có quyền khiếu nại với người bán. Ngay cả trong trường hợp người bán cung cấp bao bì sơ sài, không bảo đảm gây hư hại cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển, người mua cũng có quyền khiếu nại người bán.
- Khiếu nại về việc không giao hàng hoặc giao hàng trễ.
- Khiếu nại người bán về việc không giao hoặc chậm giao tài liệu kỹ thuật, phiếu kiểm nghiệm, không hoặc chậm thông báo giao hàng lên tàu.
3. Nhật ký khiếu nại nhà cung cấp
Để khiếu nại người bán, người mua phải nộp đơn khiếu nại. Hồ sơ khiếu nại bao gồm đơn khiếu nại và các tài liệu kèm theo làm bằng chứng.
Khiếu nại phải được thực hiện bằng văn bản. Hình thức văn bản có thể là thư bảo đảm, điện báo (telex), fax; Nếu sử dụng điện phải có công văn xác nhận.
Khiếu nại gửi đến người bán phải được trình bày rõ ràng, ngắn gọn, câu văn lịch sự, có cả phần đầu và phần cuối. Đơn yêu cầu bồi thường hợp lệ; Đó là, nó phải bao gồm tất cả các nội dung cần thiết. Thông thường, nội dung yêu cầu của đơn khiếu nại bao gồm:
- Họ, tên, địa chỉ của bên khiếu nại, người bị khiếu nại;
- Số hàng bị khiếu nại, số vận đơn, số hợp đồng mua bán;
- Nội dung khiếu nại: Khiếu nại về việc gì? giao hàng chậm, không giao hàng hoặc giao hàng tùy theo chất lượng, lý do và động cơ;
- Yêu cầu bồi thường cụ thể cho người bán.
Cần lưu ý rằng nếu nội dung khiếu nại thiếu bất kỳ chi tiết cần thiết nào thì khiếu nại được coi là không hợp lệ.
Tài liệu đính kèm đơn khiếu nại là thông tin bắt buộc trong hồ sơ khiếu nại để cung cấp bằng chứng cho việc khiếu nại. Những tài liệu này thường bao gồm:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bạn có thể sao chép toàn bộ hợp đồng và gạch dưới những điều khoản mà người bán đã vi phạm, hoặc chỉ sao chép những điều khoản mà người bán đã vi phạm.
- Vận đơn
Đó có thể là vận đơn đường biển, vận đơn đường sắt, vận đơn hàng không… tùy thuộc vào phương tiện vận tải mà hàng hóa được vận chuyển. Vận đơn là một chứng từ xác nhận số lượng hàng hóa đang hỏi, số lượng hàng hóa người bán thực giao, ngày giao hàng v.v… và trên cơ sở này có thể đối chiếu với các điều khoản có liên quan của hợp đồng. - Báo cáo giám định (đánh giá chất lượng, đánh giá số lượng, khối lượng, trọng lượng kiện hàng, đánh giá tổn thất hàng hóa do bao bì kém).
Biên bản giám định thường được lưu giữ tại cảng đến hoặc tại kho của người nhận hàng.
Biên bản giám định được thực hiện tại nước người mua là tài liệu quan trọng đảm bảo việc khiếu nại có thành công hay không, vì vậy cần chú ý đến giá trị pháp lý của biên bản giám định, xét về bản chất pháp lý, có thể có hai loại về biên bản giám định: biên bản giám định quyết định và biên bản giám định không quyết định.
Hồ sơ giám định mang tính quyết định là hồ sơ giám định quốc tịch, hồ sơ chứng cứ pháp y hoặc hồ sơ giám định do cơ quan giám định bên thứ ba do các bên chỉ định thành lập. Khi người mua sử dụng báo cáo kiểm tra quyết định để khiếu nại với người bán, người bán không thể bác bỏ nó. Báo cáo giám định không có quyết định là biên bản giám định do người mua hoặc cơ quan giám định do người mua chỉ định đơn phương lập. Loại báo cáo này không ràng buộc người bán, anh ta có thể bác bỏ nó. Các tài liệu do người mua xuất trình làm bằng chứng cho yêu cầu bồi thường là cần thiết, nhưng không phải tất cả các tài liệu đều có thể thuyết phục và ràng buộc tuyệt đối đối với người bán. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, người bán còn có quyền yêu cầu kiểm tra hàng hóa, đối chiếu hàng hóa với mẫu và yêu cầu giám định dư lượng.” Vì vậy, để tháo gỡ khó khăn trong quá trình khiếu nại, người mua phải lưu ý ghi hàng mẫu, giữ gìn bảo quản tốt hơn so với hàng hóa. Việc người mua lập hồ sơ yêu cầu bồi thường nhằm mục đích chứng minh người bán đã vi phạm hợp đồng, chứng minh những thiệt hại mà người mua phải gánh chịu và để tranh trách nhiệm của người bán. Vì vậy, người bán muốn tránh phải thỏa mãn yêu cầu chính đáng thì phải chứng minh mình không có lỗi.
4. Thời hạn khiếu nại người bán
Thời gian khiếu nại của người bán là một khoảng thời gian nhất định mà người mua phải nộp đơn khiếu nại đối với người bán. Nếu người mua không đáp ứng thời hạn khiếu nại và sau đó tiến hành khởi kiện, khiếu nại sẽ bị từ chối và cũng mất quyền khởi kiện tại trọng tài hoặc tại tòa án có thẩm quyền. Do đó, người mua phải tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn khiếu nại, nghĩa là anh ta phải nộp đơn khiếu nại người bán trong thời hạn khiếu nại quy định. Thời hạn khiếu nại được chia thành hai loại là thời hạn khiếu nại pháp luật và thời hạn khiếu nại thông thường.
Thời hạn khiếu nại theo luật định là khoảng thời gian khiếu nại do pháp luật quy định mà các bên phải tuân thủ, không được ngược lại. Thời hạn khiếu nại được quy định trong điều ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thời hạn khiếu nại do pháp luật quy định. Ví dụ, Điều 49 của Công ước Hague năm 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình quy định rằng thời hạn khiếu nại về chất lượng hàng hóa tính từ thời điểm người mua thông báo cho người bán về hàng hóa không phù hợp. Theo Điều 39 của Công ước, người mua phải thông báo cho người bán về hàng hóa không phù hợp trong thời gian ngắn kể từ khi phát hiện ra khuyết tật của hàng hóa hoặc lẽ ra phải phát hiện ra. Theo Điều 39 của Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp Quốc về Mua bán Hàng hóa Quốc tế, thời hạn khiếu nại về việc không tuân thủ là hai năm kể từ ngày hàng hóa thực sự được giao cho Bên mua.
Theo Điều 318 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, thời hạn yêu cầu bồi thường là 3 tháng đối với khiếu nại định lượng. Đối với hàng hóa có bảo hành, thời hạn yêu cầu bồi thường là 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; 6 tháng (kể từ ngày giao hàng) đối với các khiếu nại về chất lượng và 9 tháng kể từ ngày bên vi phạm buộc phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc, đối với trường hợp bảo lãnh, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành. các hành vi phạm tội khác.
Thời hạn khiếu nại thông thường là thời hạn khiếu nại do các bên quy định trong hợp đồng. Thời hạn yêu cầu bồi thường ngắn hay dài do các bên tự quyết định, tuy nhiên trên thực tế thời hạn yêu cầu thông thường thường ngắn hơn so với thời hạn yêu cầu theo luật định. 5. Cách xử lý khiếu nại của người bán
Tùy theo nội dung khiếu nại mà người mua và người bán có thể thương lượng để đưa ra các hướng giải quyết khác nhau.
Khiếu nại về việc thiếu số lượng, trọng lượng hàng hóa, nếu người bán có lỗi và theo yêu cầu của người mua thì người bán có quyền giải quyết khiếu nại bằng cách giao đủ số hàng thiếu hoặc trả lại số lượng hàng đã giao thiếu.
Trường hợp khiếu nại về chất lượng không khí là không phù hợp, phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan (Điều 41 của Công ước La Hay 1964, Điều 46 và 50 của Công ước Viên 1980) và pháp luật của quốc gia có thể được giải quyết đầy đủ sau:
- Loại trừ các khuyết tật của hàng hóa: hoặc người bán tự sửa chữa các khuyết tật và chịu chi phí, hoặc người mua sửa chữa và người bán hoàn trả chi phí.
- Thay thế hàng lỗi bằng hàng mới có chất lượng phù hợp theo quy định của hợp đồng. - Giảm giá hàng hóa.
- Hủy hợp đồng. Bên mua chỉ có quyền rút khỏi hợp đồng khi giao không đúng mẫu mã, khi hàng hóa không đáp ứng mục đích sử dụng trong hợp đồng.
Trong trường hợp có khiếu nại về việc không giao hàng hoặc giao hàng trễ, không giao hoặc giao tài liệu kỹ thuật chậm, không thông báo giao hàng, v.v., các bên có liên quan có thể tự giải quyết khiếu nại bằng cách nộp phạt hoặc bồi thường. từng trường hợp. Người bán phải giải quyết khiếu nại cho người mua trong một khoảng thời gian xác định gọi là thời hạn giải quyết khiếu nại. Thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được quy định trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không quy định thời hạn giải quyết khiếu nại thì bên bán phải giải quyết khiếu nại cho bên mua trong một thời hạn hợp lý.
Nội dung bài viết:
Bình luận