1. Hành vi trái pháp luật là gì?
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra (hoặc thừa nhận) có tính quy phạm phổ biến, có tính quy phạm chặt chẽ về mặt hình thức và có tính ràng buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, quyền lực nhà nước và được nhà nước bảo đảm để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Hành vi bất hợp pháp trong tiếng Anh là hành vi bất hợp pháp. Một hành vi bất hợp pháp có thể được hiểu là lạm dụng các quy định đã được thiết lập của pháp luật và dẫn đến một trong ba loại hành vi cụ thể:
- Thực hiện các hành vi pháp luật nghiêm cấm;
- Không thực hiện những công việc mà pháp luật quy định phải làm;
- Thực hiện hành vi ngoài phạm vi pháp luật cho phép làm. Hành vi là những phản ứng, hành vi được biểu hiện ra bên ngoài của một người trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định. Mỗi hành vi được hình thành trên cơ sở nhận thức và điều khiển của chủ thể, tức là chủ thể nhận thức được và chủ động thực hiện. Vì vậy, khi ai đó thực hiện một hành vi trái với các quy định của pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì có thể hiểu đó là hành vi trái pháp luật. Như vậy, có thể thấy được những đặc điểm để xác định một hành vi được coi là trái pháp luật hay không được coi là “trái pháp luật”. Trái ở đây là sai, theo từ điển tiếng Việt, sai được hiểu là hành vi đi ngược lại với điều thiện, làm những việc không đúng, không phù hợp với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Các quy phạm pháp luật sẽ được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và cả trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên khi tham gia.
Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam bao gồm Hiến pháp; Bộ luật và Luật; Đặt hàng; nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định của ủy ban nhân dân các cấp; phổ biến nghị quyết hội đồng các cấp.
Người nào vi phạm các quy định của hệ thống văn bản pháp luật trên sẽ bị coi là hành vi trái pháp luật.
2. Ví dụ về hành vi phạm pháp
Theo quy định tại Điều 123 BLHS 2015 thì hình phạt đối với tội giết người như sau:
"Đầu tiên. Xử phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình người nào giết người trong mồ mả thuộc các trường hợp sau đây:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ khi biết mình có thai;
d) Giết người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
đ) Giết người ngay trước hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để phạm tội hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
(i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Lợi dụng nghề nghiệp;
(l) Bằng phương pháp có khả năng giết nhiều người;
m) Thuê giết hoặc giết tá điền;
(n) có bản chất lưu manh;
o) có tổ chức;
p) Tái phát nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người nào chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 thì tình trạng mất năng lực trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Một người được coi là mắc bệnh tâm thần khi giám định pháp y kết luận và bị tòa án tuyên bố là mất khả năng.
Như vậy, giết người sẽ là hành vi phạm tội nhưng không phải ai ăn trộm cũng bị xử lý hình sự mà tùy thuộc vào sự thỏa mãn của tội danh.
Ví dụ cụ thể: Anh Nguyễn Văn M bị tâm thần, hôm qua anh C rủ anh A trêu M cho vui. C và A không những dùng những lời lẽ xúc phạm, khiêu khích ông M mà còn ra sức dùng tay chân với ông M. Không kiểm soát được hành vi của mình, ông M liền vớ lấy chiếc cuốc gần đó. Anh C sắp chết trên đường đi cấp cứu.
Như vậy, trong trường hợp trên, hành vi giết cháu M.M là hành vi vi phạm pháp luật.
3. Hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật không?
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật, sai trái do chủ thể có năng lực pháp luật thực hiện. Hậu quả của việc vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Qua định nghĩa trên ta có thể thấy hành vi trái pháp luật sẽ chỉ là một trong những điều kiện cần thiết để cấu thành hành vi trái pháp luật. Bởi ngoài yếu tố hành vi trái pháp luật, một hành vi được xác định là vi phạm pháp luật về điều kiện là hành vi đó sẽ được thực hiện bởi một người có năng lực hành vi dân sự và có khả năng chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ pháp lý. Thep luật pháp. Như vậy, hành vi trái pháp luật không phải là hành vi trái pháp luật.
4. Phân biệt hành vi trái pháp luật với hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện không đúng quy định của pháp luật dẫn đến một trong ba dạng hành vi sau đây: Thực hiện hành vi do pháp luật quy định; Không thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật; Thực hiện một hành vi vượt quá phạm vi thực hiện.
Có thể thấy, đặc điểm để xác định một hành vi có bị coi là hành vi trái pháp luật hay không chính là tính “trái pháp luật” của hành vi đó.
Trái pháp luật là việc làm trái với quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, do chủ thể có thẩm quyền thực hiện, làm phương hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Một hành vi bị coi là vi phạm pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố sau: Là hành vi trái pháp luật; Có một yếu tố lỗi; Do chủ thể có năng lực pháp luật đầy đủ, có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật; Hành vi đó xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Như vậy, có thể thấy hành vi trái pháp luật và trái pháp luật là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hành vi trái pháp luật chỉ là một trong những điều kiện cần để cấu thành hành vi trái pháp luật. Ngoài yếu tố hành vi trái pháp luật, một hành vi được coi là trái pháp luật nếu được thực hiện bởi người có năng lực hành vi dân sự và có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật. .
Lỗi là nhận thức của người thực hiện hành vi trái pháp luật về mức độ nguy hiểm cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra đối với các quan hệ xã hội, bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Điều này thể hiện tính chủ quan của chủ thể thực hiện hành vi đã lựa chọn thực hiện hành vi nguy hiểm thay vì thực hiện hành vi phù hợp với chuẩn mực, quy tắc xã hội khi có toàn quyền lựa chọn thực hiện hành vi khác.
Các hành vi vi phạm pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm của mình. Tùy theo mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật sẽ phải chịu các hình thức xử phạt khác nhau. Nó có thể là trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính, tùy thuộc vào mối quan hệ xã hội mà đối tượng của hành vi bất hợp pháp làm suy yếu.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản hành vi trái pháp luật là việc thực hiện trái với các quy định của pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật có thêm các yếu tố về năng lực chủ thể, độ tuổi, lỗi và vi phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Nội dung bài viết:
Bình luận