Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự thực chất là một loại sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Trong đó có giao dịch do người chưa thành niên xác lập. Vậy Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi sẽ như thế nào? Hãy tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

1. Giao dịch dân sự là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được định nghĩa như sau:
“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Trong đó, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015)
Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương được hiểu là sự thể hiện ý chí của một bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: lập di chúc, hứa thưởng,..
2. Hình thức của giao dịch dân sự
Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, các hình thức của giao dịch dân sự bao gồm:
- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
- Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
- Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
3. Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định (Ví dụ: hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực).
4. Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi
Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
Căn cứ Khoản 2 Điều 21 Bộ Luật dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Như vậy, người dưới 6 tuổi khi thực hiện giao dịch dân sự phải có người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện thì giao dịch đó mới có hiệu lực pháp luật. Căn cứ theo khoản 1 Điều 136 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định người đại diện hợp pháp cho người chưa thành niên là bố hoặc mẹ của người chưa thành niên đó.
Tuy nhiên, có trường hợp quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 125 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự do người chưa đủ 6 tuổi thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu cần thiết hằng ngày của người đó thì sẽ không bị vô hiệu.
5. Giao dịch dân sự vô hiệu là gì?
– Theo quy định pháp luật, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
– Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý, hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương, xảy ra giữa một bên hay nhiều bên làm phát sinh hậu quả pháp lý. Tùy từng giao dịch mà có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
– Giao dịch được xem là đúng theo quy định pháp luật khi có đủ các điều kiện sau: chủ thể, nội dung, và mục đích. Về hình thức, trong trường hợp pháp luật có quy định, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu được hiểu là một sự kiện pháp lý, hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương nhưng không có hiệu lực pháp luật và không phát sinh các quyền và những nghĩa vụ liên quan hoặc chỉ có hiệu lực pháp lý một phần.
6. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu?
Căn cứ theo quy định tại Điều 123, Điều 124, Điều 125, Điều 126, Điều 127, Điều 128, Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, 07 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu như sau:
- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Theo đó, giao dịch dân sự thuộc một trong các trường hợp nêu trên sẽ được xác định là giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định hiện nay.
7. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu?
Căn cứ theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vô hiệu dẫn đến 05 hậu quả pháp lý:
- Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
- Thứ hai, giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
- Thứ ba, bên ngay tình thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
- Thứ tư, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Thứ năm, việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân căn cứ vào Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan.
Nội dung bài viết:
Bình luận