Mời quý độc giả cùng ACC tìm hiểu thông tin về Định giá tài sản bảo đảm trong bài viết dưới đây.
1. Tài sản bảo đảm là gì?
Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.
Tài sản dùng làm tài sản bảo đảm được quy định ở Điều 105 Bộ luật Dân sự, bao gồm:
– Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
– Bất động sản và động sản (có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai)
Căn cứ theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự, tài sản bảo đảm phải đáp ứng được các điều kiện như sau:
1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
2. Quy định về định giá tài sản bảo đảm
Điều 306 Bộ Luật Dân sự quy định về định giá tài sản bảo đảm:
“1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.
2. Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
3. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quả trình định giá tài sản bảo đảm“.
3. Phân tích Điều 306 Bộ luật Dân sự
Khi xử lý tài sản thì cần phải định giá tài sản một cách khách quan đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến giá trị tài sản được định giá. Các phương thức định giá gồm:
Thứ nhất: Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thể thỏa thuận giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm. Nếu không thỏa thuận sẽ xác định thông qua tổ chức định giá tài sản.
Thông thường việc định giá tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận để đảm bảo sự thống nhất ý chí của các bên liên quan đến quyền và lợi ích của mình, thậm chí loại bỏ rủi ro cho các bên, đặc biệt bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng pháp luật không quy định việc định giá có thể thông qua chủ thể thứ ba là một sự thiếu hợp lý. Thực tế, việc định giá khi các bên không thỏa thuận được mà nhờ chủ thể tổ chức định giá sẽ tôn kém về chi phí, thòi gian nhiều hơn là chủ thể thứ ba. Cho nên, luật nên cân nhắc việc bổ sung thêm việc định giá tài sản của chủ thể thứ ba nếu các bên có yêu cầu.
Thứ hai: Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
Kể cả các bên thỏa thuận hoặc tổ chức định giá tài sản phải thực hiện việc định giá thì việc định giá phải đảm bảo khách quan, phù hợp với giá thị thường.
Thứ ba: Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm.
Khi có cơ sở chứng minh cho việc tổ chức định giá có hành vi trái pháp luật mà gây ra thiệt hại thì tổ chức định giá phải bồi thường cho bên bị thiệt hại.
Trên đây là bài viết cung cấp thông tin về Định giá tài sản bảo đảm mà ACC muốn gửi gắm tới các bạn. Hy vọng bài viết sẽ hữu ích với quý bạn đọc. Trong quá trình tìm hiểu nếu như quý khách hàng còn thắc mắc hay quan tâm và có nhu cầu được tư vấn về vấn đề trên, vui lòng liên hệ với ACC nhé!
Nội dung bài viết:
Bình luận