
Hiện nay chúng ta không còn quá xa lạ với những thủ tục hành chính nhờ tới những giấy tờ pháp luật quy định phải công chứng. Theo đó người yêu cầu công chứng phải thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tiến hành công chứng tại văn phòng công chứng của luật công chứng. Nếu có những hành vi công chứng giấy tờ giả, khai thông tin công chứng sai…Thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vậy cụ thể pháp luật Quy định về xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng như thế nào?
Trong bài viết dưới đây, Công ty Luật ACC xin gửi tới Quý khách hàng thông tin câu trả lời cho câu hỏi “Điều 75 luật công chứng- Xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng”.Mời quý khách cùng theo dõi..
1.Khái niệm công chứng
Trong một vấn đề, để hiểu rõ bản chất, vai trò, ý nghĩa thì trước tiên cần phải tìm hiểu đến khái niệm của vấn đề đó. Như vậy, việc xác định rõ khái niệm của công chứng, chứng thực là hết sức cần thiết, đó chính là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng, chứng thực và nó có vai trò về lý luận cũng như thực tiễn vô cùng quan trọng.
Trước hết khái niệm công chứng có một số thay đổi nhất định qua từng giai đoạn khác nhau. Sự thay đổi này thể hiện quan điểm của nhà nước ta về công chứng cũng như trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không thay đổi. Khái niệm đó được thể hiện qua những văn bản pháp luật về công chứng như sau:
Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.”
Nghị định 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định “Công chứng là việc xác nhận chứng thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu.”
Điều 2 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này. Có thể thấy rằng, Nghị định này có khác so với các Nghị định về vấn đề này đó là phân định rõ công chứng và chứng thực đó là bản chất của hành vi công chứng là “chứng nhận tính xác thực của hợp đồng”, còn hành vi chứng thực là “xác nhận, sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân”. Như vậy, theo như quy định trên thì hành vi công chứng chính là việc xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn hành vi chứng thực chỉ đơn thuần là việc sao lại các văn bản, hợp đồng.
Điều 2 Luật công chứng năm 2006 quy định khái niệm công chứng như sau: “Công chứng là việc Công chứng viên công nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây là gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.” Có thể khẳng định trong thời điểm hiện tại, xác nhận tính hợp pháp của giao dịch, hợp đồng chính là một trong những mục đích hàng đầu của công chứng. Như vậy, ngay tại Luật công chứng năm 2014 2006 lần đầu tiên ghi nhận mục đích của công chứng là việc chứng nhận “tính hợp pháp”.
Trên cơ sở kế thừa khái niệm công chứng của các văn bản pháp luật trước đó, tại Điều 2 Luật công chứng năm 2014 quy định khái niệm công chứng như sau:“ Công chứng là việc Công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức, xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Đây là khái niệm hoàn thiện nhất, nêu rõ chủ thể và khách thể của hoạt động công chứng; bản chất, đặc điểm và mục đích của hoạt động công chứng.
2.Người yêu cầu công chứng là ai?
Tại khoản 2 Điều 3 Luật Công chứng quy định:
“Người yêu cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này.”
Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự.
Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.
Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó
3.Xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng
“Điều 75. Xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng
Người yêu cầu công chứng có hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ, văn bản trái pháp luật hoặc có hành vi gian dối khác khi yêu cầu công chứng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật “
Người yêu cầu công chứng có hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ, văn bản trái pháp luật hoặc có hành vi gian dối khác khi yêu cầu công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cản trở công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Cá nhân không đủ điều kiện hành nghề công chứng mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào thì phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tổ chức không đủ điều kiện hành nghề công chứng mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào thì phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
4.Giới thiệu dịch vụ công ty luật ACC
Đến với ACC chúng tôi, Quý khách hàng sẽ được cung cấp những dịch vụ tư vấn tốt nhất với đội ngũ Luật sư dày dặn kinh nghiệm cùng với chuyên viên pháp lý luôn có mặt trên 63 tỉnh/thành phố và đang thực hiện dịch vụ tư vấn pháp lý.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Công ty Luật ACC liên quan đến nội dung “Điều 75 luật công chứng- Xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng”. Còn bất cứ thắc mắc gì quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua tổng đài tư vấn hoặc gửi thư về các thông tin dưới đây. Chúng tôi hy vọng nhận được nhiều ý kiến dống góp của quý khách hàng trên cả nước để chung tôi ngày một chuyên nghiệp hơn.
Hotline: 19003330
Zalo: 084 696 7979
Gmail: [email protected]
Website: accgroup.vn
Nội dung bài viết:
Bình luận