Giám định là hoạt động được tiến thành thường xuyên trong tố tụng hình sự, tuy nhiên không ít bạn đọc có hiểu biết không đúng, không đủ về vấn đề này. Vậy, pháp luật có quy định về người giám định như thế nào? Để giải đáp vấn đề này, Luật ACC xin gửi tới quý bạn đọc bài viết: “Quy định pháp luật tố tụng hình sự về người giám định”.

1. Người giám định là gì?
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS) “Người giám định là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, người giám định trong tố tụng hình sự được hiểu là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.
2. Quy định pháp luật tố tụng Hình sự về quyền của người giám định
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 68 Người giám định có quyền:
1) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;
2) Yêu cầu cơ quan trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kết luận;
3) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
4) Từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
5) Ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do tập thể giám định tiến hành;
6) Các quyền khác theo quy định của Luật giám định tư pháp.
3. Nghĩa vụ của Người giám định theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 68 BLTTHS Người giám định có nghĩa vụ:
1) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
2) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện giám định;
3) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật giám định tư pháp.
4. Các trường hợp Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi
Căn cứ theo Khoản 5 Điều 68 BLTTHS. Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau:
1) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
2) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó;
3) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
Như đã phân tích ở trên thì việc giám định được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tại khoản 5 Điều 68 BLTTHS quy định 04 trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, trong đó có trường hợp họ đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của của bị hại, đương sự hoặc của bị can bị cáo.
Thực tiễn cho thấy, khi vụ án chưa được khởi tố mà cần phải đợi kết quả giám định làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà người giám định là người thân thích của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hoặc người bị tạm giữ thì có thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi không. Vẫn biết, nếu người giám định cố tình kết luận gian dối, sai sự thật thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tương ứng tại các Điều 382, 383 của Bộ luật hình sự. Nhưng nếu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phát hiện ra thì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm, hoặc trường hợp phát hiện ra muộn thì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không thể tiến hành thủ tục tái thẩm đối với trường hợp đã có Bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, có nhiều quan điểm cho rằng nên bổ sung vào điểm a khoản 5 Điều 68 BLTTHS trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi “Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại điện, người thân thích của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc của người bị buộc tội”.
Lưu ý:
- Người giám định kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Việc thay đổi người giám định do cơ quan trưng cầu giám định quyết định.
5. Dịch vụ tư vấn Luật ACC
Trên đây là thông tin quy định của pháp luật về “Quy định pháp luật tố tụng hình sự về người giám định” mà Công ty Luật ACC gửi đến quý độc giả tham khảo. Nếu cần cung cấp thêm thông tin chi tiết quy định về người bào chữa hoặc yêu cầu nhờ Luật sư bào chữa quý khách vui long truy cập trang web: https://accgroup.vn để được trao đổi cụ thể.
Nội dung bài viết:
Bình luận