Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời đã có nhiều quy định mới tác động tích cực đến việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Đặc biệt là các quy định mới về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt. Vậy, cụ thể pháp luật tố tụng hình sự quy định như thế nào về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt? Để giải đáp vấn đề này, Luật ACC xin gửi tới quý bạn đọc bài viết: “Quy định pháp luật Tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Mới nhất 2022)”.

Th (20)

1. Quy định bộ luật Tố tụng Hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có quyền trình bày ý kiến, trình bày lời khai, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. 
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền:
- Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;
- Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
- Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có nghĩa vụ chấp hành lệnh giữ người, lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền giữ người, bắt người theo quy định của Bộ luật này
Như vậy, có thể hiểu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có quyền tự chủ về việc khai báo. Những gì bất lợi, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Ngoài ra, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt còn có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, cũng như trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
Quy định mới này nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tạo sự nhận thức thống nhất trong quá trình lấy lời khai đối với người bị giữ, bị bắt, nâng cao mức độ bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp năm 2013.

2. Vướng mắc áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

Theo quy định tại Điều 58 BLTTHS, các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã. 

Có quan điểm cho rằng, quy định như vậy là chưa đầy đủ, còn thiếu người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Bởi lẽ, khi bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị giữ có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 58 Bộ luật này, nhưng ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, thì họ đã trở thành người bị bắt. Họ không còn quyền, nghĩa vụ của người bị giữ nữa, thay vào đó họ phải có các quyền và nghĩa vụ của người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Tại khoản 2 Điều này có quy định nghĩa vụ của người bị giữ, người bị bắt là “yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền giữ người, bắt người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”, nội dung này là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của người bị giữ, người bị bắt nên nếu quy định vào khoản 1 Điều này sẽ chính xác hơn.

Ngoài ra, việc sử dụng cụm từ “người bị bắt” là chưa cụ thể, rõ ràng vì có đến 5 trường hợp bắt người, do đó cần ghi rõ là người bị bắt trong các trường hợp: phạm tội quả tang, theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và theo quyết định truy nã.

Theo chúng tôi, cần bổ sung vào khoản 1 Điều 58 Bộ luật này cụm từ “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp” để quy định về người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và sửa đổi khoản 2 Điều này như sau:

Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền:

a) Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;…

2. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt theo quyết định truy nã có nghĩa vụ chấp hành lệnh giữ người, lệnh bắt người của của cơ quan, người có thẩm quyền.

3. Dịch vụ tư vấn Luật ACC 

Trên đây là giải đáp của Luật ACC về những băn khoăn, thắc mắc liên quan đến chủ đề “Quy định pháp luật Tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Mới nhất 2022)”. Công ty Luật ACC – Đồng hành pháp lý cùng bạn, lắng nghe, nắm bắt thông tin khách hàng cung cấp để tiến hành tư vấn chuyên sâu và đầy đủ những vướng mắc, vấn đề khách hàng đang gặp phải liên quan đến tranh tụng.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo