Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời đã có nhiều quy định mới tác động tích cực đến việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Đặc biệt là các quy định mới về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt. Vậy, cụ thể pháp luật tố tụng hình sự quy định như thế nào về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt? Để giải đáp vấn đề này, Luật ACC xin gửi tới quý bạn đọc bài viết: “Quy định pháp luật Tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Mới nhất 2022)”.

1. Quy định bộ luật Tố tụng Hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
2. Vướng mắc áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắtTheo quy định tại Điều 58 BLTTHS, các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã. Có quan điểm cho rằng, quy định như vậy là chưa đầy đủ, còn thiếu người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Bởi lẽ, khi bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị giữ có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 58 Bộ luật này, nhưng ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, thì họ đã trở thành người bị bắt. Họ không còn quyền, nghĩa vụ của người bị giữ nữa, thay vào đó họ phải có các quyền và nghĩa vụ của người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tại khoản 2 Điều này có quy định nghĩa vụ của người bị giữ, người bị bắt là “yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền giữ người, bắt người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”, nội dung này là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của người bị giữ, người bị bắt nên nếu quy định vào khoản 1 Điều này sẽ chính xác hơn. Ngoài ra, việc sử dụng cụm từ “người bị bắt” là chưa cụ thể, rõ ràng vì có đến 5 trường hợp bắt người, do đó cần ghi rõ là người bị bắt trong các trường hợp: phạm tội quả tang, theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và theo quyết định truy nã. Theo chúng tôi, cần bổ sung vào khoản 1 Điều 58 Bộ luật này cụm từ “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp” để quy định về người bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và sửa đổi khoản 2 Điều này như sau: “Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt 1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền: a) Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;… 2. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt theo quyết định truy nã có nghĩa vụ chấp hành lệnh giữ người, lệnh bắt người của của cơ quan, người có thẩm quyền.” 3. Dịch vụ tư vấn Luật ACCTrên đây là giải đáp của Luật ACC về những băn khoăn, thắc mắc liên quan đến chủ đề “Quy định pháp luật Tố tụng hình sự về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Mới nhất 2022)”. Công ty Luật ACC – Đồng hành pháp lý cùng bạn, lắng nghe, nắm bắt thông tin khách hàng cung cấp để tiến hành tư vấn chuyên sâu và đầy đủ những vướng mắc, vấn đề khách hàng đang gặp phải liên quan đến tranh tụng. |
Nội dung bài viết:
Bình luận