Điều 55 luật công chứng

Hiện nay vì nhiều lý do khác nhau như bận công việc, lý do sức khỏe, khoảng cách địa lý .v.v. việc đại diện theo ủy quyền là rất phổ biến. Đặc biệt Hợp đồng ủy quyền mà bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng đang được áp dụng rất nhiều trên thực tế. Vấn đề này được quy định tại Điều 55 Luật công chứng. Bài viết dưới đây của ACC sẽ phân tích chi tiết về Điều 55 Luật công chứng.

Các Trường Hợp Công Chứng Viên Bị Xử Lý Kỷ Luật

Điều 55 Luật công chứng

1. Nội dung của Điều 55 Luật công chứng

Điều 55 Luật công chứng quy định về việc công chứng hợp đồng ủy quyền, cụ thể:

- Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia.

-  Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.

2. Phân tích Điều 55 Luật công chứng

Theo quy định của Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015:“Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Như vậy, bản chất của hợp đồng ủy quyền là một giao dịch dân sự, theo đó bên được ủy quyền sẽ thay mặt bên ủy quyền để thực hiện các công việc theo phạm vi ủy quyền.

Hợp đồng uỷ quyền phải được lập thành văn bản; nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, thì hợp đồng uỷ quyền phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền, Bên được uỷ quyền thì được uỷ quyền lại chọ người khác, nếu được bên uỷ quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định. Việc uỷ quyền lại không được vượt quá phạm vị uỷ quyền ban đầu.

Nếu bên thực hiện việc uỷ quyền nhận thù lao thì hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng có đền bù. Neu bên thực hiện việc uỷ quyền không nhận thù lao mà thực hiện công việc uỷ quyền mang tính chất giúp đỡ, tương trợ bên uỷ quyền thì đó là hợp đồng không có đền bù.

Về nguyên tắc khi công chứng hợp đồng/giao dịch, các bên tham gia (mang theo giấy tờ nhân thân và các giấy tờ khác liên quan) phải cùng nhau đến, lập và ký tên vào hợp đồng, giao dịch tại văn phòng công chứng để Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch (khoản 1 điều 2 Luật công chứng 2014), năng lực hành vi dân sự cũng như sự tự nguyện của các bên khi lập hợp đồng, giao dịch.

Tuy nhiên, đối với hợp đồng ủy quyền bên ủy quyền và bên được ủy quyền không bắt buộc phải cùng nhau đến tổ chức hành nghề công chứng mà vẫn có thể ủy quyền và nhận ủy quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 Luật công chứng:

Đối với trường hợp người ủy quyền hoặc người nhận ủy quyền là công dân Việt Nam nhưng không cư trú ở Việt Nam, ngoài Điều 55 Luật công chứng, quy định pháp luật còn mở rộng thêm tại Khoản 1 Điều 78 Luật công chứng 2014 bằng quy định Việc công chứng của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài:

Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam.

Quy định tại khoản 2 Điều 55 và Điều 78 của Luật công chứng 2014 tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi không ở cùng một địa phương có thể ủy quyền công việc, tiết kiệm được thời gian và chi phí di chuyển. Khi đó, Bên ủy quyền có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi cư trú của họ công chứng hợp đồng ủy quyền. Sau đó, bên ủy quyền chuyển hợp đồng đã được công chứng cho bên kia để họ đến tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền.

Trên đây là phân tích của ACC về Điều 55 Luật công chứng. Trong quá trình tìm hiểu nếu như quý bạn đọc còn thắc mắc hay quan tâm và có nhu cầu sử dụng dịch vụ của ACC vui lòng liên hệ với chúng tôi qua các thông tin sau: Website: accgroup.vn.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo