Để có thể tự mình tham gia tố tụng hành chính và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình thì đòi hỏi đương sự các điều kiện nhất định như có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính. Điều 54 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định về năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự. Để tìm hiểu hai loại năng lực đó là gì và xác định như thế nào trong từng trường hợp, hãy theo dõi bài viết dưới đây của ACC.
1. Đương sự.
Căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).
- Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự:
- Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
3. Xác định năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự trong từng trường hợp cụ thể.
Căn cứ theo quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì xác định năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự trong từng trường hợp cụ thể:
- Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
Người mất năng lực hành vi dân sự: theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Do đó nếu đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên nhưng là người mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính.
- Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng hành chính của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
+ Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015, người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
- Đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Quy định này được đặt ra nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ việc. Vì bản thân họ có những nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, hoặc chưa thành niên dẫn đến nhận thức về quyền lợi hợp pháp của mình không được đầy đủ hoặc không có cách nào có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình nên nếu để họ tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng hành chính sẽ khiến quyền lợi hợp pháp của họ không được bảo đảm.
- Đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Căn cứ theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết giới thiệu về năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự theo quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nội dung bài viết có liệt kê đương sự, định nghĩa về năng lực pháp luật tố tụng hành chính, năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự và xác định năng lực pháp luật tố tụng hành chính, năng lực hành vi tố tụng hành chính trong từng trường hợp cụ thể. Nếu trong quá trình tìm hiểu, quý bạn đọc còn có vấn đề thắc mắc cần được giải đáp hay có quan tâm đến các dịch vụ tư vấn do ACC cung cấp, vui lòng truy cập địa chỉ trang web sau đây: https://accgroup.vn/ để được tư vấn giải đáp một cách chi tiết nhất.
Nội dung bài viết:
Bình luận