Cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp là gì?

Tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. thực tại xã hội hiện nay, việc cướp giật diễn ra ngày càng nhiều và tính chất, mức độ cũng nguy hiểm hơn, để có thể hiểu thêm về tội cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp, sau đây Luật ACC làm rõ qua bài viết “Cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp”.

Cướp Tài Sản Có Tính Chất Chuyên Nghiệp Là Gì?
Cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp là gì?

1. Khái niệm về cướp giật tài sản 

Về khái niệm cướp giật tài sản: Cướp giật tài sản được hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một các nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu  hoặc người quản lý tài sản.

          Hành vi cướp giật được diễn ra công khai nhưng có sự bất ngờ, diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn để chiếm đoạt tài sản của người khác rồi từ đó nhanh chóng tẩu thoát.

Khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hiểu là trường hợp người phạm tội thực hiện tội tội phạm một cách thường xuyên, như là một công việc và là nguồn thu nhập hay nguồn sống chính của người phạm tội. Thông thường người phạm tội phải là không có nghề nghiệp hoặc có nghề nghiệp nhưng thu nhập từ việc phạm tội mới là nguồn thu nhập chính để sinh sống.

          Từ đó, có thể thấy rằng, cướp giật tài sản có tính chất chuyên ngiệp là việc người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản một cách thường xuyên, và coi việc cướp giật tài sản đó là nguồn thu nhập và công việc chính của bản thân người phạm tội.

          Thông thường những kẻ phạm tội chuyên nghiệp thường không có công việc, nghề nghiệp ổn định, từ đó những kẻ này coi việc cướp giật tài sản của mình mới là công việc và nguồn thu nhập chính của mình.

          Trong trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội có công việc và thu nhập ổn định, tiền lương từ công việc hợp pháp là nguồn thu nhập chính thì dù cho người phạm tội đó thường xuyên cướp giật tài sản của người khác thì cũng không được coi là “Có tính chất chuyên nghiệp”.

2. Tội cướp giật có tính chất chuyên nghiệp

Tội cướp giật có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội lấy tài sản do phạm tội làm nguồn sống chính, thực hiện từ 5 lần trở lên.

Dùng thủ đoạn nguy hiểm: là thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, hoặc của người khác như: 

- Dùng xe mô tô, xe máy thực hiện việc cướp tài sản

- Cướp giật tài sản của người đang đi mô tô, xe máy...

3. Tội cướp giật được quy định tại Bộ luật Hình sự 

Trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản mà gây ra hậu quả nghiệm trọng thì áp dụng cả 2 tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 171 BLHS thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Đây là các trường hợp cho thấy mức độ nguy hiểm cao hơn của hành vi so với trường hợp tại khoản 1 điều 171 BLHS. Các trường hợp cụ thể bao gồm:

a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Các trường hợp đó là: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. Đây là tội đặc biệt nghiêm trọng.

Phạm tội mà thuộc Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; làm chết người hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm theo quy định tại khoản 4 điều 171 BLHS.

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS; đồng thời là tình tiết định khung hình phạt quy định tại 6/13...

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS; đồng thời là tình tiết định khung hình phạt quy định tại 6/13 tội xâm phạm sở hữu thuộc chương XVI BLHS và một số tội phạm khác như: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215); Tội Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285) …

4. Thực tiễn chế định phạm tội có tính chất chuyên nghiệp 

Thực tiễn chế định Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp còn có nhận thức và áp dụng khác nhau; ví dụ Nguyễn Văn A, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trộm cắp tài sản làm nghề sinh sống và lấy tiền làm nguồn sống chính, cụ thể:

Ví dụ 1: Trong tháng 1/2019, Nguyễn Văn A đã 5 lần trộm cắp điện thoại di động, xe máy của người dân trên địa bàn huyện X tỉnh HD, giá trị tài sản đều trên 2.000.000 đồng, chưa lần nào bị khởi tố. A bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS, tình tiết định khung Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội 2 lần trở lên (điểm g khoản 1 Điều 51 BLHS).  Không có quan điểm khác nhau khi xử lý A.

Ví dụ 2: Trong tháng 1/2019, Nguyễn Văn A đã 5 lần trộm cắp điện thoại di động, xe máy của người dân, trong đó 2 lần trên địa bàn huyện X tỉnh HD và 3 lần trên địa bàn huyện C tỉnh QN; Nguyễn Văn A bị 2 Cơ quan tiến hành tố tụng huyện X tỉnh HD và huyện C tỉnh QN khởi tố, điều tra, truy tố và  xét xử về tội Trộm cắp tài sản, tại các vụ án khác nhau, theo khoản 1 Điều 173 BLHS, tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội 2 lần trở lên.(TAND huyện C tỉnh QN xét xử trước);

Ví dụ 3: Trong tháng 1/2019, Nguyễn Văn A đã 3 lần trộm cắp điện thoại di động, xe máy của người dân,  trên địa bàn huyện X tỉnh HD. Do A đã 2 lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nên A bị Cơ quan tiến hành tố tụng huyện X tỉnh HD khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm b, điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS, tình tiết định khung: tái phạm nguy hiểm, có tính chất chuyên nghiệp;

Khi xử lý Nguyễn Văn A theo ví dụ 2, ví dụ 3, đã có quan điểm khác nhau:    Quan điểm 1: A phải bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS, tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp, tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội 2 lần. Quan điểm này căn cứ hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, đó là việc  A đã 05 lần trở lên  cùng phạm một tội trộm cắp tài sản không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự chưa được xoá án tích và đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Quan điểm 2 (quan điểm của người viết): A 05 lần trở lên cùng phạm một tội trộm cắp tài sản, nhưng đã bị xét xử bằng các Bản án khác nhau của các TAND khác nhau; TA xét xử sau tổng hợp Bản án theo Luật định; Nếu xử lý A về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm b khoản 2 Điều 173 (có tính chất chuyên nghiệp) là xét xử 2 lần đối với A về 1 hành vi phạm tội. A có thể bị phạt với mức án nghiêm khắc hơn người phạm tội lần đầu vì trường hợp phạm tội của A lại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;    

Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, là hướng dẫn thực hiện Điều 48 khoản 1 điểm g BLHS 1999; BLHS 1999 đã hết hiệu lực, khi BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Quy định này không có lợi cho người bị kết án, theo tinh thần Nghị quyết 41/2017 của UBTVQH13 thì không được áp dụng khi xét xử người phạm tội;

Từ phân tích trên, tác giả thấy rằng, cần thay đổi nội dung hướng dẫn tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, cho phù hợp nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự quy định tại  BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017, theo hướng: chỉ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi: Người bị kết án đã 05 lần trở lên  cùng phạm một tội trộm cắp tài sản mà chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo