Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, triều đại nhà Lê đã để lại cho hậu thế những thành tựu to lớn trong công cuộc phát triển đất nước nói chung và trên lĩnh vực pháp luật nói riêng. Trong số các thành tựu đó, phải kể đến Quốc triều Hình luật, đặc biệt với sự tiến bộ về chế định chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật. Từ đó cho thấy Quốc triều hình luật đã có những nét đặc trưng, tiến bộ, thể hiện được trình độ lập pháp của các nhà làm luật phong kiến Việt Nam. Chính điều này đã nói lên sự độc lập tương đối của các nhà làm luật triều Lê trong quá trình xây dựng Bộ luật. Nay, hãy cùng ACC theo dõi bài viết để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

1. Chế độ thừa kế tài sản trong quốc triều hình luật
Theo quy định tại về chế định chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật, tài sản của vợ chồng sẽ được chia thành 03 nguồn khác nhau bao gồm:
- Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng (phu điền sản)
+ Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ (thê điền sản)
+ Tài sản do 2 vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung) hay tần tảo điền sản
Trong đó, khi quy định về tài sản và việc chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật, đều đặt điền thổ (đất đai) lên giá trị cao nhất. Xét theo góc độ lịch sử, đây là lúc nước ta trong thời kỳ phong kiến với nền kinh tế chính là nông nghiệp, nên việc đề cao giá trị của điền thổ là hoàn toàn hợp lý
2. Chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật
Quốc triều hình luật có những quy định rất rõ ràng về chế định thừa kế. Trong đó, tương tự như Bộ luật Dân sự ngày nay, việc chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật cũng chia hình thức thừa kế di sản sang 02 hình thức bao gồm:
2.1 Thừa kế theo di chúc
Đối với Quốc triều hình luật, di chúc bao gồm 02 hình thức:
- Di chúc miệng
- Di chúc viết (chúc thư)
Trong đó, căn cứ theo Điều 366 Quốc triều hình luật, người làm chúc thư (cha, mẹ) phải tự viết lấy (nếu không biết chữ thì nhờ quan viên nào đó trong làng xã viết hộ) và phải có sự chứng kiến cũng của quan viên trong làng xã thì chúc thư mới hợp pháp. Tương tự như ngày nay, người được thừa kế di sản và được thừa kế bao nhiêu cũng sẽ được nêu rõ ràng, cụ thể trong nội dung của chúc thư.
Ngoài ra, bên cạnh chúc thư, Quốc triều hình luật còn cho phép lập di chúc miệng, hay còn gọi là “lệnh” của ông bà
2.2 Thừa kế theo pháp luật
Khác với quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, theo Quốc triều hình luật, việc thừa kế theo pháp luật sẽ được chia theo 02 hàng thừa kế bao gồm:
- Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm các con
- Hàng thừa kế thứ hai bao gồm cha, mẹ hoặc người thừa tự
- Với hàng thừa kế thứ nhất
Thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất chỉ phát sinh khi cả cha và mẹ đều mất. Các con trong hàng thừa kế này này bao gồm cả con trai, con gái, con vợ cả, con vợ lẽ, con nàng hầu đều được hưởng thừa kế. Đặc biệt, với trường hợp là con nuôi, khi trong văn tự nhận nuôi con có ghi rõ sẽ cho thừa kế điền sản và được xác định là không thất hiếu với cha nuôi, người con nuôi hoàn toàn có thể được hưởng thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất.
Trong đó, về việc xác định mức chia thừa kế, phần hưởng của con vợ cả sẽ được chia đều bằng nhau, đến phần hưởng của con vợ lẻ sẽ kém phần của con vợ cả và cũng đều bằng nhau hết giữa các con vợ lẻ. Con nuôi sẽ được thừa kế bằng nửa phần của con đẻ. Trong trường hợp nếu không có con đẻ mà con nuôi ở cùng cha mẹ và được nuôi từ bé thì sẽ được hưởng tất cả, nếu không ở cùng từ bé thì được hưởng gấp hai lần người thừa tự của cha mẹ nuôi
Ngoài ra, người đã làm con nuôi họ khác và đã được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi vẫn được hưởng bằng một nửa người thừa tự của người tuyệt tự trong họ cha mẹ đẻ của mình
- Với hàng thừa kế thứ hai
Quan hệ thừa kế trong hàng thừa kế thứ hai chỉ phát sinh khi hôn nhân không có con và một người chết. Khi gia đình còn tồn tại đầy đủ cả vợ và chồng, tất cả tài sản sẽ được coi là của chung hai vợ chồng. Tuy nhiên, khi chồng vợ chết trước, số tài sản đó sẽ được chia làm hai phần bằng nhau:
- Một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ).
- Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu). Khi người vợ/chồng chết thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng
Về việc xác định mức chia thừa kế, phần tài sản thừa kế sẽ được chia làm hai phần bằng nhau:
- Một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng
- Một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết sẽ giao lại cho gia đình bên chồng
Qua nội dung trên, có thể thấy, mặc dù ra đời cách đây khá lâu, nhưng những quy định về chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật đã có khá nhiều điểm tiến bộ. Mong rằng sau khi theo dõi bài viết, quý độc giả sẽ hiểu rõ hơn về chế định chia di sản thừa kế theo Quốc triều hình luật
Bên cạnh đó, để có thể tìm hiểu thêm về chế định chia thừa kế theo pháp luật hiện hành, có thể tìm hiểu thêm tại đây
Trong quá trình tìm hiểu pháp luật, nếu gặp phải vướng mắc hay khó khăn gì, hãy liên hệ ACC theo thông tin sau để nhận được sự tư vấn cũng như sự hỗ trợ tốt nhất từ đội ngũ luật sư của chúng tôi:
- Tư vấn: 1900.3330
- Zalo: 084.696.7979
- Văn phòng: 028.77700888
- Mail: [email protected]
Công ty Luật ACC – Với hệ thống văn phòng luật chuyên nghiệp toàn quốc và đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết, Công ty Luật ACC tự hào là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề liên quan đến pháp lý, tư vấn pháp luật, thủ tục giấy tờ cho khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp
Nội dung bài viết:
Bình luận