1. Khái niệm trục xuất
Pháp luật Việt Nam quy định trục xuất vừa là hình phạt đối với các tội phạm được quy định trong BLHS hiện hành. Đó vừa là chế tài xử phạt hành chính, vừa là xử lý thiếu sót. Tuy nhiên, về cơ bản, khái niệm trục xuất trong pháp luật Việt Nam đều thống nhất cho rằng trục xuất là biện pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài, người không quốc tịch được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận. Nam đã phát hiện và xử lý bằng cách đưa những người này ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất cũng thể hiện bản chất của nhà nước khi nó có tác dụng cưỡng chế đối với những người bị trừng phạt. Tuy có một khái niệm chung có những điểm giống nhau như vậy nhưng trong mỗi lĩnh vực pháp luật cụ thể lại có những quy định và đặc điểm riêng. Cụ thể, trong luật hình sự, trục xuất được coi là một hình phạt nghiêm khắc trong số các hình phạt được BLHS hiện hành quy định. Đối với lĩnh vực hành chính, trục xuất là một chế tài, là công cụ hữu ích để cơ quan chức năng xử lý các hành vi vi phạm của người nước ngoài trong nhiều lĩnh vực.
Trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung được áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội (người không có quốc tịch Việt Nam) buộc phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong một thời hạn nhất định.

2. Trường hợp trục xuất
Người nước ngoài bị trục xuất khỏi Việt Nam trong các trường hợp sau:
1) Bị tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam ra quyết định trục xuất;
2) Bị Bộ trưởng Bộ Công an khai trừ. Việc trục xuất người nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự được giải quyết thông qua đường ngoại giao.
Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền ra quyết định trục xuất người nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
1) Vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam, bị xử phạt hành chính;
2) Phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự;
3) Vì lý do an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành bản án, quyết định trục xuất. Nếu người bị trục xuất không tự nguyện chấp hành bản án hoặc lệnh trục xuất thì cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế trục xuất.
Căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của việc thi hành quyết định trục xuất của Bộ trưởng Bộ Công an, cơ quan quản lí xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an quyết định:
1) Áp dụng biện pháp quản lí, giảm sát hoặc tạm giữ hành chính người bị trục xuất trong thời gian chờ thi hành quyết định trục xuất theo quy định của pháp luật;
2) Cách thức và địa điểm thực hiện việc trục xuất;
3) Các vấn đề khác có liên quan đến việc thi hành quyết định trục xuất theo quy định của pháp luật.
Người bị trục xuất có trách nhiệm:
1) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định trục xuất, chịu sự quản lí, giám sát của cơ quan quản lí xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an trong thời gian chờ thi hành quyết định trục xuất;
2) Nhanh chóng hoàn thành các thủ tục cần thiết để rời khỏi Việt Nam đúng hạn;
3) Tự chịu chi phí cho việc xuất cảnh.
3. Quyền và nghĩa vụ của người bị trục xuất
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 112/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất thì quyền, nghĩa vụ của người bị trục xuất được quy định cụ thể như sau:
- Quyền của người bị trục xuất:
Được biết lý do bị trục xuất, nhận quyết định trục xuất chậm nhất 48 giờ trước khi thi hành;
Được liên hệ với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước mà mình là công dân để được bảo vệ, trợ giúp;
Được thực hiện các chế độ quy định tại Điều 31 Nghị định này trong thời gian chờ làm thủ tục trục xuất;
Được mang theo tài sản hợp pháp của mình ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
Được khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Nghĩa vụ của người bị trục xuất:
Thực hiện đầy đủ các quy định ghi trong quyết định trục xuất;
Xuất trình giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh;
Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu sự quản lý của cơ quan Công an trong thời gian làm thủ tục trục xuất;
Nhanh chóng chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về dân sự, hành chính, kinh tế theo quy định của pháp luật (nếu có). Trường hợp cố tình không chấp hành thì áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương I Phần thứ tư Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Thực hiện các bước cần thiết để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
4. Trục xuất trong luật hình sự
Theo xu thế phát triển hiện đại của nhân loại, pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền con người, quyền con người được thể hiện thống nhất và trong mọi văn bản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp đến các văn bản dưới luật. Trong đó, công dân Việt Nam và người nước ngoài, người không quốc tịch được tôn trọng và đối xử bình đẳng theo quy định của pháp luật, không xâm phạm quyền con người của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, pháp luật buộc phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ phạm tội. Đặc biệt đối với người nước ngoài, việc truy cứu trách nhiệm hình sự cần phải được tiến hành chặt chẽ và đúng pháp luật hơn do liên quan đến vấn đề ngoại giao. Vì vậy, tại Điều 37 BLHS hiện hành quy định hình phạt trục xuất là hình phạt riêng đối với người phạm tội là người nước ngoài và người không quốc tịch như sau:
Điều 37. Trục xuất
Trục xuất buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trục xuất được tòa án tuyên bố là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.
Bộ luật Hình sự hiện hành quy định trục xuất vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung. Cụ thể hơn, Điều 32 BLHS hiện hành quy định:
Điều 32. Xử phạt đối với người phạm tội
1. Các hình phạt chính bao gồm
d) Trục xuất
2. Hình phạt bổ sung bao gồm:
g) Trục xuất, khi không áp dụng, là hình phạt chính
Như vậy, để áp dụng hình phạt trục xuất đối với người nước ngoài, người không quốc tịch phạm tội thuộc thẩm quyền của pháp luật Việt Nam thì Tòa án phải xem xét và tuyên hình phạt cụ thể. Những trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt là hình phạt khác, không phải là trục xuất. Tuy nhiên, nếu xét thấy cần thiết phải trục xuất người phạm tội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam thì tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất.
5. Trục xuất trong luật hành chính
Do cá nhân là người nước ngoài nên người không quốc tịch được pháp luật cho phép tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam như lao động, đầu tư kinh doanh, văn hóa nghệ thuật, v.v. Vì vậy, với việc tham gia vào các quan hệ xã hội đó, sẽ có lúc các chủ thể này có hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Ngoài việc phải chịu các hình thức xử phạt hành chính được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 như cảnh cáo, phạt tiền…, luật còn quy định trục xuất là hình thức xử phạt. nên áp dụng riêng đối với người vi phạm hành chính là người nước ngoài. Cụ thể, Mục 27 của Luật Xử lý Vi phạm Hành chính 2012 quy định như sau:
Điều 27. Trục xuất
1. Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất. Như đã trình bày ở trên, mặc dù có những điểm tương đồng nhưng khái niệm trục xuất trong luật hành chính có sự khác biệt khá lớn so với khái niệm trục xuất cụ thể trong luật hình sự.
Thứ nhất, hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính ít hơn hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền quyết định trục xuất người nước ngoài phạm tội trái pháp luật hình sự là Tòa án. Trong lĩnh vực hành chính, người có thẩm quyền ra quyết định trục xuất là Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh.
Thứ ba, đối với những người bị tòa án kết án trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam thì đây được coi là một tiền án. Còn việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong lĩnh vực hành chính thì không coi là có án tích.
Các trường hợp điển hình bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong lĩnh vực hành chính là những người không đáp ứng điều kiện hoặc có hành vi vi phạm khi nhập cảnh vào Việt Nam. Ngoài ra, vi phạm của công nhân không có giấy phép hoặc công nhân ngầm sau khi hết thời hạn quy định trong giấy phép. Cụ thể hơn, Điều 171 Bộ luật Lao động 2012 quy định:
Điều 171. Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam..... 2. Công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Chính phủ.
Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, kể cả khi người vi phạm đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trục xuất thì việc chấp hành quyết định xử phạt có thể được hoãn thi hành trong các trường hợp sau đây:
Bị bệnh nặng, phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác không thể chấp hành quyết định xử phạt trục xuất có xác nhận của bệnh viện, trung tâm y tế cấp huyện trở lên hoặc trường hợp bất khả kháng khác;
Phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự, hành chính, kinh tế theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, trong thời đại thế giới phẳng hiện nay và sự biến hóa, phát triển mạnh mẽ của tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm xâm hại người nước ngoài, pháp luật Việt Nam đã có những quy định về hình phạt vừa nghiêm minh, vừa đảm bảo tính pháp luật quốc tế, đã góp phần rất lớn vào việc đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật.
Nội dung bài viết:
Bình luận