![]()
Ngày 14/4/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư số 01/2021/TT-BGDĐT, 02/2021/TT-BGDĐT, 03/2021/TT-BGDĐT, 04/2021/TT-BGDĐT quy định mã số, chuẩn giáo dục công chức mầm non, dạy nghề và bổ nhiệm công chức. Thông tư có hiệu lực từ ngày 30/5/2023.
Bỏ yêu cầu giáo viên phải có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp theo hạng
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại thời điểm ban hành các thông tư số 01/2021/TT-BGDĐT, 02/2021/TT-BGDĐT, 03/2021/TT-BGDĐT, 04/2021/TT-BGDĐT (thông tư 01-04) quy định về chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thực hiện theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP của Chính phủ. 1 2 tháng 9 năm 017 của Chính phủ liên quan đến công tác đào tạo cán bộ, công chức. Như vậy, giáo viên mỗi cấp học có 03 chứng chỉ tương ứng với 03 chức danh nghề nghiệp.
Tuy nhiên, ngày 18/10/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 89/2021/NĐ-CP sửa đổi, hoàn thiện một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 10/12/2021) và điều chỉnh quy định chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn nghiệp vụ chứng khoán viên chuyên ngành chứng khoán như sau: mỗi chuyên ngành có 01 chương trình, thời gian thực hiện tối đa 06 tuần. Vì vậy, tại Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã điều chỉnh quy định về chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp (gọi tắt là chứng chỉ) như sau:
Một chứng chỉ chung duy nhất được quy định cho tất cả các lớp giáo viên. Mỗi bậc học chỉ có 01 chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp.
Giáo viên đã đạt một trong các chứng chỉ theo mức điểm của cấp học đang giảng dạy trước ngày 30 tháng 6 năm 2022 thì được xác định đạt yêu cầu của chứng chỉ, được sử dụng trong kỳ thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp và không phải học chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tương ứng với từng cấp học.
Khi bổ nhiệm, điều động, xếp lại chức danh nghề nghiệp giáo viên theo quy định tại thông tư 01-04 và khi điều động chức danh nghề nghiệp giáo viên không phải có chứng chỉ. Giáo viên mới được tuyển dụng phải có các chứng chỉ cần thiết trong thời gian thử việc.
Quy định tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp chung cho các hạng chức danh nghề nghiệp
Để thống nhất với các quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp ở các văn bản quy định tiêu chuẩn CDNN khác và không làm xáo trộn việc đánh giá tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non, phổ thông như quy định trước đây tại các Thông tư liên tịch số 20,21,22,23/2015/TTLT-BGDĐT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông (đã được thay thế bởi Thông tư 01-04), tại Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT, Bộ GDĐT bỏ quy định tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp ở từng hạng chức danh nghề nghiệp và chỉ quy định đạo đức nghề nghiệp chung cho giáo viên ở tất cả các hạng.
Không yêu cầu giáo viên tiểu học, trung học cơ sở (THCS) hạng I phải có trình độ thạc sĩ
Theo quy định tại Thông tư số 02,03, giáo viên tiểu học, THCS hạng I phải có bằng thạc sĩ trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên đối với giáo viên tiểu học/THCS hoặc có bằng thạc sĩ trở lên chuyên ngành phù hợp với môn học giảng dạy hoặc có bằng thạc sĩ quản lý giáo dục trở lên.
Thời điểm ban hành Thông tư số 02,03 cấp tiểu học chưa có giáo viên hạng I do đây là hạng mới bổ sung so với quy định tại Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV. Tuy nhiên, một số giáo viên THCS hạng I cũ do chưa có bằng thạc sĩ theo quy định nên tạm thời bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II mới.
Các trường hợp này sau khi đạt các tiêu chuẩn của hạng I mới thì bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng I mới mà không phải thông qua kỳ thi hoặc xét thăng hạng (chi tiết tại khoản 3 Điều 9 Thông tư số 03/2021/TT-BGDĐT). Mặc dù việc tạm xếp vào chức danh nghề nghiệp mới của giáo viên THCS hạng 2 không phải là “bỏ học” như một số giáo viên nghĩ mà là xếp ngạch tương ứng với trình độ chuẩn theo quy định của lớp.
Đồng thời, mọi chế độ, chính sách mà giáo viên được hưởng hiện nay vẫn được đảm bảo, không có bất kỳ sự điều chỉnh nào. Tuy nhiên, điều này vẫn ảnh hưởng đến tâm lý của một bộ phận giáo viên THCS.
Nắm bắt những phản ánh của nhóm nghiên cứu, Bộ GD-ĐT đã sửa đổi quy định về trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học và THCS trên cơ sở nghiên cứu yêu cầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục tiểu học và THCS.
Theo đó, mục tiêu giáo dục tiểu học là đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển các đức, trí, thể, mỹ và năng lực thẩm mỹ của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học.
Mục tiêu của giáo dục THCS là nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy, với yêu cầu giảng dạy, cung cấp các kiến thức cơ bản và nền tảng, việc quy định giáo viên tiểu học, THCS hạng I phải có trình độ thạc sĩ là không cần thiết.
Do đó, tại Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT, Bộ GDĐT điều chỉnh quy định về trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học, THCS hạng I là đại học.
Giáo viên được xếp lương tương ứng với hạng chức danh nghề nghiệp được bổ nhiệm
Khi các Thông tư số 01-03 được địa phương triển khai thực hiện đã nảy sinh một số vướng mắc như: Giáo viên mầm non khi chưa đạt các tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp hạng II mới thì được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp hạng III mới và chuyển xếp lương từ viên chức loại A1 (2,34) sang A0 (2,10), tuy nhiên, Thông tư số 01 chưa hướng dẫn cụ thể việc xếp lương trong trường hợp này.
Giáo viên tiểu học, THCS khi đạt tiêu chuẩn để bổ nhiệm hạng II mới và chuyển xếp lương từ viên chức loại A1 (2,34) sang A2.2 (4,0) thì những giáo viên đang được hưởng hệ số lương 2,34, 2,67, 3,00 (là trường hợp được bổ nhiệm hạng cao ngay sau tuyển dụng do có trình độ đào tạo cao hơn trình độ chuẩn theo quy định) và 3,33, 3,66, 3,99 đều được chuyển xếp vào hệ số lương 4,0.
Bộ GDĐT đã nghiên cứu, tham vấn ý kiến của các cơ quan có liên quan, lấy ý kiến của hơn 580.000 giáo viên mầm non, phổ thông và quyết định vẫn giữ nguyên quy định giáo viên được bổ nhiệm hạng chức danh nghề nghiệp nào thì được xếp lương theo hạng đó như hiện hành để bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc xếp lương tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau:
Khi bổ nhiệm từ hạng cũ sang hạng mới tương ứng chỉ xét 02 tiêu chuẩn: trình độ đào tạo và thời gian giữ hạng thấp hơn liền kề; không yêu cầu giáo viên phải có minh chứng của các tiêu chuẩn khác.
Trường hợp giáo viên chưa đạt tiêu chuẩn của hạng tương ứng (trình độ đào tạo và thời gian giữ hạng) thì tiếp tục giữ hạng, mã số và hệ số lương của chức danh nghề nghiệp hiện đang được xếp theo Thông tư liên tịch số 20,21,22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, không bổ nhiệm hạng thấp hơn liền kề. Khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp tương ứng mà không phải thông qua thi hoặc xét thăng hạng.
Việc sửa đổi, bổ sung như trên sẽ giúp cho công tác bổ nhiệm, xếp lương được thực hiện đơn giản hơn, tránh phát sinh việc yêu cầu giáo viên cung cấp nhiều minh chứng không cần thiết. Đồng thời, khắc phục được vướng mắc trong việc xếp lương giáo viên mầm non và không có trường hợp giáo viên tiểu học, THCS mới tuyển dụng đang giữ hệ số lương 2,34, 2,67, 3,00 được bổ nhiệm hạng II mới và chuyển xếp vào hệ số lương 4,00. Đảm bảo tính thống nhất về quy định thời hạn duy trì ngạch giữa các cấp học và quy định của Bộ Nội vụ về thời hạn duy trì ngạch công chức, chuyên viên, chuyên viên chính.
Điều chỉnh thời hạn giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non năm thứ 3 từ 9 năm xuống còn 3 năm
Quy định về thời hạn duy trì HNĐC đối với giáo viên mầm non cấp III trong thông tư 02 là 9 năm nhằm đảm bảo phù hợp với quy định về thời gian công tác tối thiểu trong ngạch theo nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Tuy nhiên, chênh lệch về hệ số lương giữa hạng III (theo thang lương viên chức A0 có hệ số lương khởi điểm 2,10) và hạng II (theo thang lương viên chức A1 có hệ số lương khởi điểm 2,34) không lớn, nếu quy định giữ ngạch 9 năm sẽ làm giảm động lực của giáo viên mầm non.
Như vậy, tại Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh thời hạn giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng III từ 9 năm xuống còn 3 năm để thống nhất với các ngành, lĩnh vực khác (ví dụ quy định thời hạn giữ ngạch quản lý là 3 năm theo Thông tư 02/2021/TT-BNV của Bộ Nội vụ).
Tuy nhiên, thời hạn giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng II đã được tăng từ 6 năm lên 9 năm để đảm bảo phù hợp với quy định của Nghị định 204/2004/NĐ-CP. Đồng thời, thống nhất với quy định về thời gian duy trì bậc III đối với giáo viên THCS và quy định về thời gian duy trì bậc/bậc đối với các chức danh có cùng thang lương công chức/viên chức A1 khác.
Giáo viên mầm non, THCS không cần xuất trình giấy tờ chứng minh đã thực hiện công việc đứng lớp khi được bổ nhiệm từ lớp cũ theo tư cách chuyên môn sang lớp mới theo tư cách chuyên môn.
Thông tư 01-04 quy định các công việc theo từng cấp sẽ thực hiện sau khi cử giáo viên đứng lớp nếu được giám đốc phân công.
Tuy nhiên, khi bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp cũ sang hạng chức danh nghề nghiệp mới, một số địa phương yêu cầu giáo viên phải có đủ căn cứ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ của hạng dẫn đến giáo viên không đủ căn cứ nên không được bổ nhiệm vào ngạch tương ứng.
Để khắc phục tình trạng này tại một số địa phương, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bổ sung quy định vào Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT như sau:
Làm rõ quy định về công việc của từng hạng chức danh nghề nghiệp: là những công việc giáo viên thực hiện sau khi được bổ nhiệm đứng lớp và trong thời gian giữ bậc nếu được hiệu trưởng phân công, hiệu trưởng có thể phân công giáo viên thực hiện nhiệm vụ của hạng cao hơn nếu giáo viên có năng lực.
Khi bổ nhiệm lên lớp tương ứng, giáo viên không cần chứng minh đã thực hiện đúng nhiệm vụ của lớp. Ngoài ra, cần lưu ý rằng tại Thông tư 01-04, Bộ GD-ĐT đã làm rõ: Đối với nhiệm vụ theo lớp trong năng lực chuyên môn mà trường mầm non, trường THCS công lập không được giao hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì có thể chuyển đổi thành nhiệm vụ khác có liên quan để làm cơ sở đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên.
Như vậy, quy định về nhiệm vụ của giáo viên không phải là quy định cứng, bắt buộc đối với mọi cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và cũng không phải là việc làm bắt buộc đối với mọi giáo viên.
Ngoài ra, Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT cũng bổ sung quy định chuyển tiếp và thể thức áp dụng để địa phương thuận lợi hơn trong việc bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương giáo viên.
Cụ thể: Quy định về Nguyên tắc chuyển chức danh nghề nghiệp (Khoản 5 Điều 5), Nguyên tắc bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp trong trường hợp giáo viên Vẫn giữ ngạch công chức hoặc Vẫn giữ ngạch giáo viên có đầu mã từ “15.”, “15a. », « 15c. (Tiết 6, Tiết 5).
Quy định về việc đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ sư phạm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm hoặc chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm được cấp trước ngày 22 tháng 5 năm 2021 (khoản 8 Điều 5). Làm rõ khái niệm về lộ trình phù hợp để tạo thuận lợi cho việc tuyển dụng, sử dụng giáo viên (Khoản 9 Điều 5).
Bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, điều chỉnh lương đối với trường hợp giáo viên được phân công dạy môn học mới, môn học thiếu giáo viên, môn học tích hợp (Khoản 10 Điều 5).
Gia hạn các trường hợp trên cơ sở trình độ đào tạo để bổ nhiệm ngạch cao hơn không qua thi nâng ngạch (khoản 12 Điều 5).
Để ổn định công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý biên chế, giúp giáo viên yên tâm công tác, tập trung thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các địa phương khẩn trương nghiên cứu điều chỉnh quy định, hoàn thiện việc bổ nhiệm, xếp lương giáo viên mầm non, phổ thông công lập trong thời hạn nhất định.
Nội dung bài viết:
Bình luận